LƯỢT TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 30

Máy chủ tìm kiếm : 6

Khách viếng thăm : 24


Hôm nayHôm nay : 733

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 295447

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 12766634

LIÊN KẾT WEBSITE

ĐĂNG NHẬP

Ban Dân tộc HĐND tỉnh làm việc với các sở ngành liên quan về tình hình thực hiện một số chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh

Thứ ba - 14/09/2021 19:48
Tiếp tục thực hiện Kế hoạch số 26/KH – BDT ngày 16/8/2021 của Ban Dân tộc HĐND tỉnh khảo sát về tình hình thực hiện một số chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế -xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi trên địa bàn tỉnh, chiều ngày 13/9, Ban Dân tộc HĐND tỉnh đã có buổi làm việc với lãnh đạo một số sở, ngành liên quan. Đồng chí Bùi Quang Trí, Ủy viên Thường trực, Trưởng Ban Dân tộc HĐND tỉnh chủ trì buổi làm việc.
Toàn cảnh buổi làm việc

Toàn cảnh buổi làm việc

Tại buổi làm việc,Ban Dân tộc tỉnh đã báo cáo kết quả rà soát, phân định theo trình độ phát triển các xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS và MN) trên địa bàn tỉnh, đồng thời đánh giá về sự thiếu hụt một số chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội đối với vùng đồng bào DTTS và MN sau khi các xã vùng đặc biệt khó khăn (khu vực III) đã đạt chuẩn xây dựng nông thôn mới, được xác định là xã khu vực I (giai đoạn 2021-2025) và thôi hưởng các chính sách áp dụng đối với xã khu vực III.

 Theo báo cáo, hiện nay có 192/193 xã, phường, thị trấn trên địa bàn toàn tỉnh được xác định là xã thuộc vùng đồng bào DTTS và MN (Thị trấn Vĩnh Tuy huyện Bắc Quang không thuộc vùng đồng bào DTTS và MN). Trong đó có 128 xã thuộc khu vực III; 07 xã thuộc khu vực II và 57 xã thuộc khu vực I. Số thôn đặc biệt khó khăn thuộc các xác khu vực I và II được phê duyệt tại Quyết định 433/QĐ-UBDT ngày 18/6/2021 là 81 thôn; tuy nhiên sau khi Ban Dân tộc tỉnh phối hợp với UBND các huyện, thành phố rà soát lại theo hướng dẫn của Ủy ban Dân tộc đã xác định toàn tỉnh có 1.326 thôn đặc biệt khó khăn, trong đó: 91 thôn thuộc xã khu vực I; 28 thôn thuộc xã khu vực II và 1.243 thôn thuộc xã khu vực III.

Đánh giá về sự thiếu hụt các chính sách sau khi các xã thuộc khu vực III đạt chuẩn nông thôn mới, được xác định là xã khu vực I và các thôn đã thoát ra khỏi vùng đặc biệt khó khăn và, báo cáo nêu: Đối với tỉnh nghèo như Hà Giang, đời sống đồng bào còn gặp nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng mặc dù được quan tâm đầu tư, nhưng mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu thực tế, nhất là đối với các xã, thôn thuộc các huyện 30a. Mặt khác, đối với các xã được công nhận nông thôn mới, đa số còn nợ tiêu chí, chưa thực sự phát triển toàn diện, vẫn còn nhiều thôn ĐBKK trong xã NTM. Trong triển khai thực hiện chế độ chính sách đối với các xã thuộc khu vực III, khu vực II và thôn ĐBKK giai đoạn 2016 - 2020 đến nay được công nhận NTM, trở về vùng I, thoát khỏi diện ĐBKK còn gặp nhiều vướng mắc, nhất là về thời điểm kết thúc chính sách.

Theo đó, các xã này sau khi từ khu vực III về khu vực I sẽ không được thụ hưởng các chính sách như: chính sách 135 (về hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng; phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo; nâng cao năng lực cho cộng đồng và cán bộ cơ sở cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu; các thôn, bản đặc biệt khó khăn); chính sách đầu tư phát triển toàn diện các xã thuộc diện phấn đấu đạt đủ các tiêu chí để công nhận đạt chuẩn nông thôn mới vì sau khi được tỉnh công nhận xã NTM, các xã chỉ còn được hưởng các khoản hỗ trợ định mức quy định đối với các xã hoàn thành NTM… Bên cạnh đó, năm học 2021 – 2022 dự kiến 10.970 học sinh mầm non và học sinh phổ thông ở các thôn, xã ra khỏi xã khu vực III sẽ không được hưởng 3 chính sách theo Nghị định số 116/2016/NĐ-CP, Nghị định số 145/2018/NĐ-CP, Nghị định số 105/2020/NĐ-CP, sẽ gặp nhiều khó khăn vì đa số là người dân tộc thiểu số và là con em hộ gia đình mới thoát nghèo, đời sống còn nhiều khó khăn nên việc cắt giảm các chính sách hỗ trợ này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến công tác huy động học sinh đến trường và công tác duy trì sỹ số học sinh của các trường học; chính sách đóng và hỗ trợ đóng BHYT đối với người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng dân tộc khó khăn; người sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động…Vì vậy đối với các thôn ra khỏi diện thôn ĐBKK sẽ chịu tác động lớn vì không được hưởng chính sách đầu tư hỗ trợ cho thôn ĐBKK thuộc chương trình 135 và một số chính sách hỗ trợ hộ dân sinh sống ở thôn ĐBKK. Tính bình quân số kinh phí đầu tư, hỗ trợ từ các chương trình, chính sách giảm nghèo và một số chính sách dân tộc/năm đối với xã thuộc diện nông thôn mới khu vực III giao động từ 9-36 tỷ/năm; đối với xã khu vực II từ 7-8 tỷ/năm. Sau khi các xã này được công nhận nông thôn mới, một số chính sách sẽ không được đầu tư hoặc cắt giảm. Trong đó, chính sách tác động lớn nhất là chương trình 135. Đối với chính sách về giáo dục, bảo hiểm y tế và chế độ tiền lương cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang ở khu vực III, khu vực II khi chuyển về khu vực I cũng chịu tác động lớn. Tổng kinh phí giảm trừ trong năm 2021 là 89.666 tỷ đồng.

Các ngành đề xuất, kiến nghị với Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương, với tỉnh: Sớm ban hành chính sách hỗ trợ bữa ăn trưa cho học sinh tiểu học có hộ khẩu thường trú ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn đang theo học tại các điểm trường khi thực hiện việc dậy học 2 buổi/ngày; có chính sách hỗ trợ cho cán bộ, giáo viên, nhân viên đang công tác tại các trung tâm GDNN-GDTX có học viên ở nội trú; đề nghị tiếp tục cho người dân các xã khu vực III và khu vực II giai đoạn 2016 -2020 hiện nay chuyển xuống xã khu vực I theo Quyết định số 861 của Thủ tướng Chính phủ được tiếp tục thụ hưởng chính sách BHYT theo Luật BHYT và các chính sách an sinh xã hội khác do Trung ương ban hành đến hết 31/12/2021 để các cơ quan chuyên môn có thời gian rà soát và chuyển đổi. Tiếp tục kéo dài thời gian thực hiện các chính sách do Trung ương ban hành sau 01 năm đối với các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc miền núi sau khi được địa phương công nhận đạt chuẩn nông thôn mới; đối với các xã thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn được tiếp tục thực hiện các chính sách do Trung ương ban hành đến hết năm ban hành Quyết định của Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban Dân tộc. Đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo việc nghiên cứu xây dựng chính sách hỗ trợ bảo hiểm y tế, hộ nghèo và học sinh đối với các xã hoàn thành nông thôn mới…

Kết luận buổi làm việc, trên cơ sở đề xuất, kiến nghị của các ngành, Trưởng Ban Dân tộc HĐND tỉnh Bùi Quang Trí đề nghị ngành giáo dục quan tâm nắm bắt diễn biến kịp thời đối với công tác giáo dục, vận động nguồn xã hội hóa, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động duy trì sỹ số học sinh; có cơ chế quản lý, phối hợp trong công tác thu và quản lý học phí; chỉ đạo các nhà trường quản lý tốt cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng dậy và học; sớm tham mưu cho tỉnh xem xét sửa đổi Nghị quyết 22 của HĐND tỉnh về chính sách hỗ trợ học sinh bán trú, học sinh nghèo không thuộc đối tượng hưởng theo Quyết định số 2123/QĐ-TTg ngày 22/11/2010 và Quyết định số 85/2010/QĐ-TTg ngày 21/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ; Chính sách hỗ trợ đối với cán bộ quản lý, người phục vụ học sinh bán trú tại các trường phổ thông công lập trên địa bàn tỉnh Hà Giang cho phù hợp với quy định mới hiện nay. Đề nghị Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tiếp tục rà soát hộ nghèo, tránh bỏ sót đối tượng. Đề nghị các ngành phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương đẩy mạnh tuyên truyền các chính sách tới người dân trong giai đoạn mới chuyển đổi.
Lan Phương
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

VIDEO HOẠT ĐỘNG

KIẾN NGHỊ CỬ TRI


















 




ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG
Địa chỉ: Số 01 Đường Đội Cấn - Phường Nguyễn Trãi - Thành phố Hà Giang - Tỉnh Hà Giang
Số điện thoại: 
02193.860.778 - Fax: 02193.860.778
Email: bbt.dbnd@hagiang.gov.vn hoặc 
tttthdndhg@gmail.com