LƯỢT TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 40

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 39


Hôm nayHôm nay : 8407

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 434302

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 17359831

LIÊN KẾT WEBSITE

ĐĂNG NHẬP

Một số kết quả về lý luận và thực tiễn của đề tài khoa học: Thực trạng và giải pháp bài trừ một số tập tục lạc hậu trong đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Hà Giang

Thứ sáu - 17/06/2022 23:53
Đề tài “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp bài trừ một số tập tục lạc hậu trong đồng bào DTTS tỉnh Hà Giang” được UBND tỉnh ban hành quyết định giao Văn phòng Tỉnh ủy Hà Giang là cơ quan chủ trì triển khai. Tháng 6 năm 2022, Đề tài đã được nghệm thu với kết quả đạt Xuất sắc. Ban chủ nhiệm đề tài đánh giá một số kết quả về lý luận và thực tiễn như sau:

Thứ nhất, cần xác định tập tục lạc hậu là tồn tại xã hội. Sự hiện diện của tập tục lạc hậu, bắt nguồn từ chức năng xã hội của tập tục đó và trình độ nhận thức của cộng đồng. Thực tế, mỗi tập tục đều có chức năng xã hội riêng, ví dụ như tục tảo hôn ngoài chức năng gia đình, duy trì nòi giống, còn có chức năng kinh tế, giải quyết vấn đề thiếu lao động, đồng thời sớm tái sản xuất nguồn nhân lực. Tục kết hôn cận huyết, có chức năng để duy trì, thắt chặt quan hệ anh em họ hàng và bảo toàn kinh tế dòng họ (tránh để người và của cải thất thoát sang dòng họ khác); hay tục phạt vạ có chức năng giáo dục các thành viên trong cộng đồng; tục cúng bái khi ốm đau, có chức năng để chữa bệnh; tục cúng giải hạn để cầu sức khỏe bình an… Do đó sự tồn tại của bất kỳ tập tục nào, cũng là vì nó còn ý nghĩa giá trị nhất định đối với cộng đồng đó. Tập tục chỉ thay đổi, mất đi khi nó không còn giá trị và người dân nhận thức rõ những ảnh hưởng tiêu cực của nó đến cộng đồng, mong muốn xóa bỏ.

Thứ hai, mọi vấn đề đời sống xã hội đều chịu sự chi phối của kinh tế. Sự tồn tại của tập tục lạc hậu cũng xuất phát từ vấn đề kinh tế. Điều này biểu hiện rõ nhất ở các tập tục trong tang ma và hôn nhân. Việc phúng viếng nhiều gia súc, gia cầm mục đích chính là để người ta trả “nợ đồng lần”, ngoài ra còn có một bộ phận được hưởng lợi đó là thầy cúng. Tục thách cưới, đối với nhà trai phải bỏ ra một món tiền và lễ vật để “mua cô dâu”, còn đối với nhà bố mẹ cô gái sẽ nhận được một món lễ vật có giá trị kinh tế lớn từ việc “bán dâu”. Do vậy, muốn xóa bỏ tập tục, phải có giải pháp giúp đồng bào phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống, mới tạo được niềm tin và nền tảng cho sự thay đổi nhận thức, hành vi.

Thứ ba, vấn đề tập tục của đồng bào phải do chính đồng bào tự cải tạo, xóa bỏ. Bởi họ là chủ thể hành vi của tập tục đó, không ai có thể đứng ra làm thay, mà chính họ mới có thể giải quyết vấn đề của họ. Tuy nhiên cần xác định rõ, nhiệm vụ cải tạo, xóa bỏ tập tục lạc hậu, không phải là trách nhiệm riêng của một cộng đồng dân tộc địa phương nào đó, mà là nhiệm vụ chung của toàn xã hội. Do đó, quá trình triển khai, các cấp, các ngành phải quan tâm đồng hành sát sao, hướng dẫn phương pháp, cách làm, đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Thư tư, công tác cải tiến, xóa bỏ tập tục trong đồng bào DTTS là cuộc vận động sâu rộng nhằm thay đổi về tư tưởng, nhận thức và hành vi của cả cộng đồng người. Đây là cuộc đấu tranh “gạn đục khơi trong” trường kỳ, gian nan và rất nhiều khó khăn, thách thức. Quá trình thực hiện, tuyệt đối tránh tâm lý chủ quan, nóng vội, tư duy áp đặt máy móc, mà cần lắng nghe, bàn bạc, công khai, dân chủ, tạo tiếng nói chung trong cộng đồng, đi đến sự đồng tình nhất trí cao về phương pháp, cách làm. Cần khéo léo, nhạy cảm nắm bắt tư tưởng, dư luận xã hội. Tránh để xảy ra xung đột, bất đồng, mâu thuẫn lớn. Tránh thái độ phân biệt kỳ thị, bài xích tập tục của đồng bào, mà phải phân tích, chỉ ra cho họ thấy rõ điểm không phù hợp của tập tục đó trong thời điểm hiện nay, cũng như những tác động tiêu cực của tập tục đến sự phát triển KT - XH và đời sống, bằng những lý lẽ có tính khoa học, hợp lý, dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật và địa phương.

Thứ năm, văn hóa truyền thống các dân tộc bao gồm những giá trị tốt đẹp và mặt trái. Vì vậy, công cuộc xây dựng đời sống văn hóa, văn minh phải thực hiện theo nguyên tắc “xây và chống”. Cùng với việc xây dựng, phát huy những giá trị bản sắc văn hóa, đồng thời phải chống các quan điểm, tư tưởng, hành vi đi ngược lại với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Trước hết với những hành vi liên quan đến tập tục lạc hậu, cần được phê phán và xử phạt theo quy ước, hương ước thôn, với những vụ việc có tính chất nghiêm trọng, cần xử lý theo quy định của pháp luật để làm gương, răn đe. Với phương châm giảm dần, tiến tới xóa bỏ.

Thứ sáu, cải tạo bài trừ hủ tục lạc hậu là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở. Mỗi cấp, mỗi ngành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị phải có trách nhiệm tham gia, phối hợp can thiệp, tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn nhân dân từng bước giảm thiểu, cải tiến, xóa bỏ tập tục, xây dựng đời sống văn hóa mới.

Thứ bảy, trước khi triển khai vận động cải tiến, xóa bỏ tập tục lạc hậu, cấp ủy, chính quyền địa phương phải xây dựng được “kịch bản” thay thế các phong tục, tập quán bị xóa bỏ. Luôn chủ động làm chủ tình huống, tránh lúng túng, lệch hướng trong quá trình tuyên truyền, vận động nhân dân.

Thứ tám, tiến hành bài trừ tập tục phải có lộ trình, từ khảo sát, nghiên cứu khoa học, thí điểm, nhân rộng, sơ kết, tổng kết. Đặc biệt chú trọng công tác thi đua khen thưởng các tấm gương sáng, nhân tố điển hình.

Đặc biệt đề tài đã xây dựng được 02 mô hình phát triển kinh tế gắn với bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc Dao và dân tộc Mông. Sưu tầm, thiết kế mô hình không gian bảo tồn văn hóa tại xã Lũng Pù và xã Hồ Thầu. Đây được coi như điểm nhấn quan trọng, gắn kết những giá trị văn hóa của quá khứ và hiện tại cần bảo tồn và gìn giữ. Điều quan trọng là từ những không gian văn hóa này, sẽ là nơi thu hút du lịch địa phương với nhiều giá trị tiếp cận về kinh tế du lịch được mở ra; người dân sẽ nhìn thấy lợi ích từ chính những giá trị văn hóa của họ và bản thân người dân sẽ tự nguyên thay đổi, bài trừ hủ tục, để thay đổi cho chính cuộc sống của họ và thế hệ tương lai.

Có thể khẳng định kết quả nghiên cứu đề tài đã phản ánh trung thực thực trạng tồn tại của các tập tục lạc hậu và phân tích ảnh hưởng, hệ lụy của các tập tục đó đến các lĩnh vực đời sống nhân dân, nếu như không được cải tiến, xóa bỏ. Trên cơ sở thực trạng của tập tục lạc hậu, đề tài đã đề xuất được các nhóm giải pháp cải tạo, bài trừ sát với thực tiễn các dân tộc trên địa bàn tỉnh Hà Giang; đặc biệt kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở quan trọng để Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Giang ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU ngày 10/5/2021 về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng bài trừ tập tục lạc hậu ở vùng đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh và Nghị quyết số 27-NQ/TU ngày 01/5/2022 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về thực hiện xóa bỏ hủ tục, phong tục, tập quán lạc hậu, xây dựng nếp sống văn minh trong nhân dân các dân tộc tỉnh Hà Giang giai đoạn 2022 - 2025, định hướng đến năm 2030.
Nguyễn Mạnh Dũng, Phạm Văn Tú

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin cũ hơn

 

VIDEO HOẠT ĐỘNG

KIẾN NGHỊ CỬ TRI


















 





ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG
Địa chỉ: Đường 26/3 - Phường Nguyễn Trãi - Thành phố Hà Giang - Tỉnh Hà Giang
Số điện thoại: 
02193.860.778 - Fax: 02193.860.778
Email: bbt.dbnd@hagiang.gov.vn hoặc 
tttthdndhg@gmail.com