LƯỢT TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 29

Máy chủ tìm kiếm : 5

Khách viếng thăm : 24


Hôm nayHôm nay : 5419

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 130584

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 10478593

LIÊN KẾT WEBSITE

ĐĂNG NHẬP

Sở Tư pháp hướng dẫn về nghiệp vụ công tác hộ tịch

Thứ ba - 02/03/2021 13:44
Để đảm bảo quyền lợi của người dân và kịp thời giải quyết những bật cập trong quản lý nhà nước về công tác hộ tịch trên địa bàn tỉnh trong thời gian vừa qua, ngày 26/02/2021, Sở Tư pháp tỉnh Hà Giang đã ban hành văn bản số 140/STP-HCTP hướng dẫn về nghiệp vụ công tác hộ tịch trên địa bàn tỉnh. theo đó:
Về thẩm quyền đăng ký hộ tịch: Pháp luật đã mở rộng, không hạn chế quyền lựa chọn đăng ký hộ tịch của công dân và cho phép cá nhân có thể đăng ký hộ tịch tại cơ quan đăng ký hộ tịch nơi cá nhân cư trú - bao gồm: Nơi thường trú, nơi tạm trú hoặc nơi đang sinh sống.

Tuy nhiên để đảm bảo quản lý tốt thông tin hộ tịch của cá nhân trong trường hợp cá nhân không đăng ký tại nơi thường trú thì cơ quan đăng ký hộ tịch (UBND cấp huyện, UBND cấp xã) sau khi đã đăng ký hộ tịch cho cá nhân phải thông báo việc đăng ký hộ tịch đến UBND cấp xã nơi cá nhân đó thường trú để ghi vào sổ quản lý theo dõi.

Về ủy quyền đăng ký khai sinh: Tại khoản 2 Điều 2 Thông tư 04/2020/TT-BTPcủa Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch (Thông tư 04) đã quy định: “Trường hợp người đi đăng ký khai sinh cho trẻ em là ông, bà, người thân thích khác theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Luật hộ tịch thì không phải có văn bản ủy quyền của cha, mẹ trẻ em, nhưng phải thống nhất với cha, mẹ trẻ em về các nội dung khai sinh”.

Việc thống nhất với cha, mẹ trẻ em về các nội dung khai sinh được thể hiện tại Tờ khai đăng ký khai sinh: “Tôi cam đoan nội dung đề nghị đăng ký khai sinh trên đây là đúng sự thật, được sự thỏa thuận nhất trí của các bên liên quan theo quy định pháp luật”.

Về việc đặt tên không quá dài: Theo nghĩa rộng, tên bao gồm tổng thể các chữ cái của cả họ, chữ đệm (tên đệm) và tên.Việc đặt tên cho trẻ em phải phù hợp với pháp luật, có ý nghĩa, dễ sử dụng vì quyền lợi mọi mặt cho trẻ em sau này. Tên dễ sử dụng là tên (bao gồm cả tên đệm) có độ dài (tổng thể các chữ cái) vừa phải, không quá dài, đủ để có thể ghi lên các giấy tờ tùy thân, các thẻ của cá nhân, phần mềm hộ tịch điện tử. Pháp luật quy định “không đặt tên quá dài”thì cần hiểu là không đặt tên đệm (chữ đệm) quá dài.

Về đăng ký nhận cha, mẹ, con, bổ sung hộ tịch trong trường hợp đặc biệtquy định tại khoản 4 Điều 16 Thông tư 04: Khoản 4, Điều 16 Thông tư 04 quy định"Trường hợp con do người vợ sinh ra hoặc có thai trong thời kỳ hôn nhân nhưng vợ hoặc chồng không thừa nhận là con chung hoặc người khác muốn nhận con thì do Tòa án nhân dân xác định theo quy định pháp luật. Trường hợp Tòa án nhân dân từ chối giải quyết thì cơ quan đăng ký hộ tịch tiếp nhận, giải quyết yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ em chưa xác định được cha hoặc đăng ký nhận cha, con, hồ sơ phải có văn bản từ chối giải quyết của Tòa án và chứng cứ chứng minh quan hệ cha, con theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Thông tư này".

Theo hướng dẫn của Sở Tư pháp: Trường hợp Tòa án không có văn bản từ chối giải quyết việc xác định cha,mẹ, con, cơ quan đăng ký hộ tịch tiếp nhận yêu cầu đăng ký khai sinh kết hợp nhận cha, mẹ, con, sau đó chủ động có văn bản trao đổi với Tòa án nhân dân có thẩm quyền. Căn cứ văn bản trả lời của Tòa án, cơ quan đăng ký hộ tịch hướng dẫn người yêu cầu hoàn thiện hồ sơ, tiếp nhận giải quyết việc đăng ký hộ tịch cho người dân theo quy định tại Khoản 4 Điều 16 Thông tư 04 (Lưu ý: Cơ quan đăng ký hộ tịch cần có văn bản trao đổi chính thức kèm theo hồ sơ đầy đủ khi trao đổi với Tòa án nhân dân).

Về đăng ký khai tử cho người đã chết quá lâu: Điều 13 Thông tư 04 quy định: Trường hợp đăng ký khai tử cho người chết đã lâu, không có Giấy báo tử hoặc giấy tờ thay thế Giấy báo tử theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch (Nghị định 123) thì người yêu cầu đăng ký khai tử phải cung cấp được giấy tờ, tài liệu, chứng cứ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp hoặc xác nhận hợp lệ chứng minh sự kiện chết; trường hợp người yêu cầu đăng ký khai tử không có giấy tờ, tài liệu, chứng cứ chứng minh hoặc giấy tờ, tài liệu, chứng cứ không hợp lệ, không bảo đảm giá trị chứng minh thì cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối đăng ký khai tử.

Như vậy, đối với trường hợp đăng ký khai tử cho người chết đã lâu, ngườiyêu cầu đăng ký khai tử phải cung cấp được giấy tờ, tài liệu, chứng cứ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp hoặc xác nhận hợp lệ chứng minh sự kiện chết (ví dụ: hồ sơ, lý lịch cá nhân đi học, đi làm do cơ quan, đơn vị nơi học tập, công tác quản lý, xác nhận, có ghi nhận thông tin liên quan đến việc tử vong; Biên bản xác minh tai nạn, Giấy chứng nhận mai táng, Hợp đồng hỏa táng, văn bản xác nhận của chính quyền, công an địa phương ....), các giấy tờ, tài liệu này cần được cơ quan đăng ký hộ tịch phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, xác minh chặt chẽ, bảo đảm thông tin đúng sự thật.

Trường hợp người yêu cầu đăng ký khai tử chỉ cung cấp được các giấy tờ như: gia phả dòng họ, giấy tờ tùy thân của người chết (nếu có); ảnh bia, mộ người chết; văn bản xác nhận của người làm chứng về các thông tin liên quan đến người chết, sự kiện chết; nếu các thông tin này được cơ quan đăng ký hộ tịch kiểm tra, xác minh, khẳng định được tính xác thực, có lập Biên bản xác minh thì có thể vận dụng coi là căn cứ để thực hiện việc đăng ký khai tử.

Trong trường hợp người yêu cầu đăng ký khai tử không cung cấp được bất cứ giấy tờ, tài liệu, chứng cứ chứng minh hoặc giấy tờ, tài liệu, chứng cứ không hợp lệ, không bảo đảm giá trị chứng minh thì cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối đăng ký khai tử.

Về ghi sổ việc khai sinh đã đăng ký ở nước ngoài: Đối với trường hợp trẻ em sinh ra ở nước ngoài có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, còn người kia là công dân nước ngoài mà trẻ em đã được đăng ký khai sinh tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài và có quốc tịch nước ngoài thì không thuộc diện được đăng ký khai sinh tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. Việc khai sinh của trẻ em đó ở nước ngoài cũng không thuộc trường hợp được ghi vào Sổ theo pháp luật Việt Nam.

Trường hợp trẻ em sinh ra ở nước ngoài, có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, còn người kia là công dân nước ngoài mà trẻ em đã được cơ quan có thẩm quyền nước ngoài đăng ký khai sinh nhưng không xác định quốc tịch cho trẻ em, nếu cha mẹ yêu cầu và có văn bản thỏa thuận lựa chọn quốc tịch Việt Nam cho con thì việc khai sinh đó được ghi vào Sổ tại Việt Nam; trẻ em được xác định có quốc tịch Việt Nam.

Về đăng ký lại khai sinh: Đăng ký lại khai sinh chỉ thực hiện nếu người yêu cầu đăng ký còn sống vào thời điểm tiếp nhận hồ sơ. Không thực hiện đăng ký lại khai sinh đối với người đã chết. Sau khi đăng ký lại khai sinh, công chức Tư pháp – Hộ tịch chỉ cập nhật thông tin khai sinh vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử để quản lý, theo dõi, không gửi lên Bộ Tư pháp để lấy Số định danh cá nhân;

Đăng ký lại khai sinh khi không có giấy tờ về quan hệ cha, mẹ, con (khoản 4 Điều 9 Thông tư 04): Thông thường, khi đăng ký lại khai sinh, người yêu cầu phải có giấy tờ, tài liệu để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con để có cơ sở ghi thông tin vào Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong nhiều trường hợp người yêu cầu, nhất là những người cao tuổi, không thể có được hồ sơ, giấy tờ, tài liệu để chứng minh về quan hệ cha, mẹ, con. Vì vậy, cơ quan đăng ký hộ tịch có văn bản đề nghị cơ quan Công an có thẩm quyền xác minh. Nếu cơ quan Công an trả lời có kết quả xác minh thông tin về quan hệ cha, mẹ, con thì thông tin về cha mẹ trên Giấy khai sinh được ghi theo văn bản xác nhận của cơ quan Công an. Nếu cơ quan Công an trả lời không có thông tin về cha, mẹ, con thì cơ quan đăng ký hộ tịch cho phép người yêu cầu đăng ký lại khai sinh lập văn bản cam đoan về thông tin cha, mẹ do họ tự khai, đồng thời xác định nội dung thông tin về cha, mẹ theo văn bản cam đoan đó.

Về việc thay đổi, cải chính hộ tịch mà không liên hệ được với người mẹ

Đối với những trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hôn, khi sinh con, người con sống cùng với người cha, người con đã được đăng ký khai sinh, trong giấy khai sinh có thông tin của người mẹ, phần thông tin của người cha bỏ trống. Sau khi thực hiện thủ tục đăng ký nhận cha con tại khoản 1 Điều 16 Thông tư 04, vận dụng theo hướng: Người cha làm thủ tục thay đổi, cải chính hộ tịch, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc mà không liên hệ được với người mẹ thì không cần xin ý kiến của người mẹ trong Tờ khai. Tuy nhiên, cần lưu ý cơ quan đăng ký hộ tịch kiểm tra, xác minh, khẳng định việc không liên hệ được với người mẹ.

Về gia hạn thời gian trao Giấy chứng nhận kết hôn: Theo quy định tại Khoản 3 Điều 32 Nghị định 123: “Trường hợp một hoặc hai bên nam, nữ không thể có mặt để nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì theo đề nghị bằng văn bản của họ, Phòng Tư pháp gia hạn thời gian trao Giấy chứng nhận kết hôn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ký Giấy chứng nhận kết hôn. Hết 60 ngày mà hai bên nam, nữ không đến nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện hủy Giấy chứng nhận kết hôn đã ký”.

Khoản 1 Điều 156 Bộ Luật dân sự quy định: “Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu; sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép; trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự của mình”.

Dịch bệnh Covid -19 là sự kiện khách quan, bất khả kháng, không thể lường trước được, hiện vẫn đang diễn biến phức tạp và chưa chấm dứt, nhiều vùng, nhiều nơi vẫn còn thực hiện cách ly và các biện pháp y tế nghiêm ngặt khác. Vì vậy, các cơ quan đăng ký hộ tịch vận dụng quy định nêu trên báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân trong thời gian xảy ra dịch bệnh Covid -19 không tính vào thời gian gia hạn nhận Giấy chứng nhận kết hôn.

Đối với tình trạng người dân ồ ạt đi đăng ký lại khai sinh và thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch khi cơ quan Công an thực hiện việc thu thập dữ liệu dân cư: Theo ghi nhận của Sở Tư pháp, thời gian vừa qua, cơ quan Công an thực hiện việc thu thập dữ liệu dân cư vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đã phát hiện nhiều thông tin cá nhân của công dân bị sai lệch, không thống nhất dẫn đến tình trạng nhiều người dân ồ ạt đi đăng ký lại khai sinh, cải chính hộ tịch, bổ sung hộ tịch.

Trước thực trạng này, Sở Tư pháp đề nghị UBND cấp huyện có giải pháp chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương xử lý theo hướng: Công an địa phương trong quá trình triển khai thu thập thông tin công dân vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, trướchết cần chủ động kiểm tra, xác minh, đối chiếu thông tin công dân với dữ liệu CMND, CCCD, Hộ khẩu… sẵn có. Nếu có sự sai lệch thì phải phối hợp với cơ quan Tư pháp địa phương để đối chiếu với hệ thống sổ sách hộ tịch hiện đang lưu giữ tại địa phương; đồng thời, cơ quan Công an không yêu cầu người dân đi đăng ký lại khai sinh một cách ồ ạt, gây sức ép đối với UBND và công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã.

Theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 26 Luật hộ tịch thì phạm vi thay đổi hộ tịch gồm: “1. Thay đổi họ, chữ đệm và tên của cá nhân trong nội dung khai sinh đã đăng ký khi có căn cứ theo quy định của pháp luật dân sự; 2. Thay đổi thông tin về cha, mẹ trong nội dung khai sinh đã đăng ký sau khi được nhận làm con nuôi theo quy định của Luật nuôi con nuôi”, do đó, phạm vi thay đổi hộ tịch không bao gồm việc thay đổi quê quán. Tại Khoản 12 Điều 4 Luật hộ tịch cũng quy định: Việc cải chính hộ tịch chỉ được cơ quan có thẩm quyền thực hiện trong trường hợp có sai sót khi đăng ký hộ tịch. Do đó, trường hợp thông tin về mục quê quán (nếu có) được xác định đúng theo quy định của pháp luật tại thời điểm đăng ký khai sinh thì không có cơ sở để thực hiện việc thay đổi hoặc cải chính. Trường hợp quê quán của con không trùng với quê quán của cha/mẹ, trái quy định pháp luật tại thời điểm đăng ký khai sinh thì vẫn xem xét thực hiện cải chính hộ tịch theo quy định pháp luật.

Về việc cấp số định danh cá nhân: Về việc xử lý một số vướng mắc liên quan đến số định danh cá nhân của trẻ em đăng ký khai sinh từ ngày 01/01/2016, Sở Tư pháp đã có Công văn số 850/STP-HCTP ngày 22/12/2020, đề nghị UBND các huyện, thành phố hướng dẫn cơ quan đăng ký hộ tịch trên địa bàn để thực hiện.
 BBT
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

VIDEO HOẠT ĐỘNG

KIẾN NGHỊ CỬ TRI


















 




ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG
Địa chỉ: Số 01 Đường Đội Cấn - Phường Nguyễn Trãi - Thành phố Hà Giang - Tỉnh Hà Giang
Số điện thoại: 
02193.860.778 - Fax: 02193.860.778
Email: bbt.dbnd@hagiang.gov.vn hoặc 
tttthdndhg@gmail.com