LƯỢT TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 49

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 47


Hôm nayHôm nay : 16505

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 378125

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 18566416

LIÊN KẾT WEBSITE

ĐĂNG NHẬP

NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI

Thứ tư - 29/09/2021 04:57
Xác định “Hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản” theo quy định tại khoản 1, Điều 154 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
 
Hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản” là một trong bốn trường hợp văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần quy định tại điều 154 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2020 (Luật ban hành VBQPPL).

Trên thực tế khi áp dụng trường hợp này thì ở địa phương còn có những quan điểm khác nhau, dẫn đến lúng túng trong quá trình thực hiện. Hầu hết các VBQPPL chỉ quy định thời điểm có hiệu lực của văn bản, rất ít các VBQPPL xác định cụ thể ngày, tháng, năm hết hiệu lực ngay trong văn bản đó. Luật ban hành VBQPPLvà Nghị định số 34/2014/NĐ-CP ngày 14/5/2016 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi, bổ bung bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020) không quy định rõ thế nào là trường hợp hết hiệu lực theo thời hạn đã được quy định trong văn bản. Do đó, để xác định thế nào là “Hết thời hạn có hiệu lực được quy định trong văn bản” còn có quan điểm khác nhau như sau:
         
Quan điểm thứ nhất: Cho rằng trường hợp “Hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản” chỉ áp dụng đối với các VBQPPL ghi rõ ràng, cụ thể thời gian (ngày, tháng, năm) hết hiệu lực tại văn bản (ví dụ: áp dụng đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2016). Còn lại đối với những văn bản không xác định cụ thể thời gian hết hiệu lực hoặc quy định chung chung tại văn bản (ví dụ “có hiệu lực từ ngày…tháng…năm đến khi kết thúc nhiệm kỳ” hoặc “áp dụng trong giai đoạn năm 2011 – 2015” thì không được coi là hết hiệu lực đã được quy định trong văn bản mà phải thực hiện theo quy trình bãi bỏ VBQPPL của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Luật  ban hành VBQPPL.

Quan điểm thứ hai: Cho rằng tất cả các trường hợp VBQPPL có quy định hiệu lực theo giai đoạn (không phân biệt việc xác định ngày, tháng, năm hết hiệu lực cụ thể hay không xác định cụ thể) thì đương nhiên văn bản đó hết hiệu lực khi kết thúc giai đoạn theo quy định tại khoản 1 điều 154 của Luật ban hành VBQPPL, những trường hợp này không cần thiết phải thực hiện theo quy trình bãi bỏ mà chỉ cần đưa vào danh mục VBQPPL hết hiệu lực, ngưng hiệu lực hàng năm do Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp ra quyết định công bố.

Từ những quan điểm khác nhau trong việc xác định các VBQPPL “hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản” là vấn đề rất quan trọng trong quá trình áp dụng pháp luật. Theo quy định của Nghị định số 34/2014/NĐ-CP; Nghị định số 154/2020/NĐ-CP thì các văn bản hết hiệu lực, ngưng hiệu lực được Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp công bố hết hiệu lực theo định kỳ hàng năm hoặc khi thực hiện tổng rà soát hệ thống hóa VBQPPL và được đưa vào Danh mục văn bản hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần theo mẫu số 03, mẫu số 04 phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị định số 34/2014/NĐ-CP, đồng thời phải xác định được chính xác “ngày hết hiệu lực (ngày… tháng…năm)” của văn bản đó. Vì vậy, để thống nhất trong việc xác định “hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản” theo quy định tại khoản 1 điều 154 Luật ban hành VBQPPL, các cơ quan cần rà soát lại nội dung của văn bản để xác định chính xác “ngày hết hiệu lực” của văn bản như sau:

(1) Đối với các văn bản xác định cụ thể thời điểm hết hiệu lực (quy định rõ ngày…tháng…năm hết hiệu lực) tại văn bản thì đương nhiên hết hiệu lực theo quy định tại khoản 1 điều 154 Luật ban hành VBQPPL và văn bản đó sẽ được đưa vào Danh mục văn bản hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần do Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp công bố định kỳ hàng năm.

(2) Đối với những văn bản không xác định được cụ thể ngày hết hiệu lực của văn bản hoặc quy định thời điểm hết hiệu lực chung chung thì cơ quan có thẩm quyền ban hành VBQPPL phải thực hiện theo quy trình bãi bỏ văn bản theo quy định tại Luật ban hành VBQPPL. Sau khi văn bản bị bãi bỏ sẽ đưa vào Danh mục văn bản hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần do Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp công bố định kỳ hàng năm.

Trên thực tế hiện nay, các cơ quan chuyên môn trong quá trình thực hiện rà soát thường xuyên cácVBQPPL thuộc chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của cơ quan mình thường không chú ý đến những văn bản có quy định thực hiện theo giai đoạn, chính vì vậy khi kết thúc giai đoạn đó không kịp thời rà soát để đề xuất xử lý đối với những văn bản này nên mặc dù về nội dung của văn bản đã đã hết hiệu lực nhưng về mặt hình thức thì vẫn còn tồn tại trên cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật do chưa được đề xuất hình thức xử lý. Chính vì vậy, để kịp thời xử lý các VBQPPL đã hết hiệu lực theo giai đoạn, người làm công các pháp chế ở các cơ quan đơn vị cần nâng cao trách nhiệm trong công tác rà soát VBQPPL để kịp thời tham mưu xử lý văn bản đúng theo quy định của pháp luật nhằm xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật được đảm bảo tính chính xác, kịp thời, toàn vẹn và đầy đủ phục vụ nhu cầu quản lý nhà nước, nghiên cứu và tìm hiểu pháp luật./.
Ngọc Kiên  
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

VIDEO HOẠT ĐỘNG

KIẾN NGHỊ CỬ TRI


















 





ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG
Địa chỉ: Đường 26/3 - Phường Nguyễn Trãi - Thành phố Hà Giang - Tỉnh Hà Giang
Số điện thoại: 
02193.860.778 - Fax: 02193.860.778
Email: bbt.dbnd@hagiang.gov.vn hoặc 
tttthdndhg@gmail.com