LƯỢT TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 23


Hôm nayHôm nay : 1375

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 54663

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2782964

LIÊN KẾT WEBSITE

ĐĂNG NHẬP

Chính sách về “hỗ trợ ăn trưa đối với trẻ em mẫu giáo và chính sách đối với giáo viên mầm non” – Sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước đến trẻ em

Thứ hai - 12/02/2018 10:35
Từ ngày 20 tháng 02 năm 2018 (tức ngày mùng 5 Tết Mậu Tuất) Nghị định 06/2018/NĐ-CP ngày 05/ 01/ 2018 quy định chính sách hỗ trợ ăn trưa đối với trẻ em mẫu giáo và chính sách đối với giáo viên mầm non chính thức có hiệu lực. Theo đó, Nghị định đã mở rộng đối tượng trẻ em độ tuổi mẫu giáo được hưởng hỗ trợ ăn trưa và chính sách đối với giáo viên mầm non được cụ thể hơn. Nội dung của chính sách đã thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với công tác chăm sóc thế hệ tương lai của đất nước.

Đối với hỗ trợ ăn trưa được áp dụng cho trẻ em đang học tại lớp mẫu giáo trong các cơ sở giáo dục mầm non (không bao gồm trẻ em dân tộc thiểu số rất ít người theo quy định tại Nghị định số 57/2017/NĐ-CP ngày 09 tháng 5 năm 2017 của Chính phủ quy định chính sách ưu tiên tuyển sinh và hỗ trợ học tập đối với trẻ em mẫu giáo, học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số rất ít người)  và có một trong các điều kiện được quy định tại điều 3 của nghị định, đó là :

1. Có cha mẹ hoặc có cha hoặc có mẹ hoặc có người chăm sóc trẻ em hoặc trẻ em thường trú ở xã, thôn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi, các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển, hải đảo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.

2. Không có nguồn nuôi dưỡng được quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 136/2013/NĐ-CPngày 21 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.

3. Là nhân khẩu trong gia đình thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ”.

Mức  hỗ trợ tiền ăn trưa bằng 10% mức lương cơ sở/trẻ/tháng. Thời gian hỗ trợ tính theo số tháng học thực tế, nhưng không quá 9 tháng/năm học.

Nghị định cũng quy định cụ thể về thủ tục để hỗ trợ, bao gồm hồ sơ đề nghị hỗ trợ, trình tự và thời gian thực hiện. Việc chi trả kinh phí hỗ trợ ăn trưa được thực hiện 2 lần trong năm học: Lần 1 chi trả đủ 4 tháng vào tháng 10 hoặc tháng 11 hàng năm; lần 2 chi trả đủ 5 tháng vào tháng 2 hoặc tháng 3 hàng năm. Riêng về phương thức chi hỗ trợ ăn trưa, được quy định rất linh hoạt và phù hợp với điều kiện của các địa phương khác nhau. Căn cứ vào thực tế quản lý và cách tổ chức ăn trưa của nhà trường, lãnh đạo cơ sở giáo dục mầm non thống nhất với ban đại diện cha mẹ trẻ em để lựa chọn thực hiện theo một trong hai phương thức:

Phương thức 1: Cơ sở giáo dục mầm non giữ lại kinh phí hỗ trợ để tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ em;

Phương thức 2: Chi trả trực tiếp bằng tiền mặt cho cha mẹ hoặc người chăm sóc trẻ em theo quy định”.

Về chính sách đối với giáo viên mầm non, Nghị định quy định rõ về đối tượng được hưởng chính sách (Điều 7), nội dung và phương thức thực hiện chính sách (Điều 8). Theo đó, tùy theo đối tượng giáo viên mầm non và địa bàn công tác sẽ được bố trí xếp lương phù hợp, hưởng hỗ trợ tài liệu và chi phí tập huấn, thanh toán tiền mua tài liệu học tập vv.. Đặc biệt với Giáo viên mầm non trực tiếp dạy 02 buổi/ngày tại các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo ghép từ hai độ tuổi trở lên ở các điểm lẻ hoặc trực tiếp dạy tăng cường tiếng Việt tại các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo có trẻ em là người dân tộc thiểu số tại các điểm lẻ ở các cơ sở giáo dục mầm non công lập ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn, hằng tháng được hỗ trợ thêm một khoản bằng tiền là 450.000 đồng/tháng (bốn trăm năm mươi ngàn đồng một tháng). Thời gian hưởng hỗ trợ là 9 tháng/năm (từ tháng 9 năm trước đến hết tháng 5 của năm liền kề), tiền hỗ trợ được trả cùng với việc chi trả tiền lương của tháng và không dùng tính đóng hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp. Đây là chế độ ưu đãi đặc thù rất phù hợp đối với các giáo viên mầm non “cắm bản”.

Nghị định cũng quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong việc triển khai các nội dung chính sách. Trong đó Phòng giáo dục và đào tạo chịu trách nhiệm tổng hợp dự toán kinh phí thực hiện các chế độ của tất cả các cơ sở giáo dục mầm non trên địa bàn, gửi cơ quan tài chính cùng cấp thẩm định, trình Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định và gửi Sở tài chính để tổng hợp vào dự toán chi ngân sách, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đồng thời gửi báo cáo Sở giáo dục và đào tạo để phối hợp quản lý; Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xây dựng dự toán kinh phí thực hiện, tổng hợp chung trong dự toán chi ngân sách nhà nước của địa phương, gửi Bộ Tài chính cùng thời gian báo cáo dự toán ngân sách nhà nước năm kế hoạch; Cơ quan tài chính các cấp có trách nhiệm bảo đảm kinh phí thực hiện, hướng dẫn quản lý và kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện.

Theo Quyết định Số: 50/2016/QĐ-TTg ngày 03/ 11/ 2016 của Thủ tướng chính phủ về quyết định tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016 – 2020 và Quyết định số:582/QĐ-TTg​ ngày 28/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt danh sách thôn dặc biệt khó khăn, xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016-2020. Tỉnh Hà Giang có đến 134/195 xã thuộc khu vực III là xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; 1.249/1.408 thôn đặc biệt khó khăn. Như vậy đối tượng thụ hưởng chính sách này là rất lớn.

Hằng năm, Ủy ban nhân dân tỉnh căn cứ Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước, Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính về xây dựng dự toán ngân sách nhà nước, xây dựng dự toán kinh phí thực hiện các chính sách quy định, tổng hợp chung trong dự toán chi ngân sách nhà nước của địa phương, gửi Bộ Tài chính cùng thời gian báo cáo dự toán ngân sách nhà nước năm kế hoạch. Nhưng  năm 2018, là năm đầu tiên thực hiện chính sách này, thời điểm có hiệu lực của chính sách lại là thời điểm đã giao ngân sách hàng năm của địa phương, vì vậy ngành tài chính cần đề nghị trung ương bổ sung ngân sách để chính sách được đi vào cuộc sống. Bởi vì nguồn kinh phí thực hiện chính sách này theo quy định được cân đối trong dự toán chi ngân sách sự nghiệp giáo dục, đào tạo hàng năm của các địa phương, nhưng ngân sách trung ương thực hiện hỗ trợ cho các địa phương theo quy định của Luật ngân sách nhà nước, các văn bản hướng dẫn Luật và cơ chế hỗ trợ từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương để thực hiện các chính sách an sinh xã hội do Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Để chính sách trên được thực hiện hiệu quả trên địa bàn tỉnh Hà Giang, rất cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Trong đó vai trò chỉ đạo, điều hành hoạt động của Ủy ban nhân dân các cấp là đặc biệt quan trọng, từ việc rà soát đối tượng được thụ hưởng theo quy định, chỉ đạo thực hiện các quy trình để đảm bảo chính sách. Hệ thống cơ quan hội đồng nhân dân các cấp lưu ý để giám sát việc thực hiện và khi quyết định ngân sách hàng năm của địa phương phải lưu tâm đến việc đảm bảo nguồn lực chính sách này. Đặc biệt với các cơ quan được giao nhiệm vụ cụ thể tham mưu và triển khai thực hiện, như ngành Tài chính và ngành Giáo dục và Đào tạo cần thực hiện nhiệm vụ nghiêm túc, quyết liệt, để tránh bỏ sót đối tượng, đảm bảo chế độ cho các đối tượng hết sức đặc thù này. Đối với mặt trận tổ quốc và các thành viên cần tuyên truyền đến đoàn viên, hội viên hiểu rõ về chính sách, đồng thời giám sát việc thực hiện chính sách tại địa phương.

Đảng và Nhà nước trong những năm qua đã ban hành rất nhiều chính sách để hỗ trợ cho đồng bào nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và trẻ em. Cùng với việc thực hiện Nghị định 116/2016/NĐ-CP ngày 18 /07/ 2016 quy định chính sách hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở xã, thôn đặc biệt khó khăn, thì việc Chính phủ ban hành Nghị định 06/2018/NĐ-CP ngày 05/ 01/ 2018 quy định chính sách hỗ trợ ăn trưa đối với trẻ em mẫu giáo và chính sách đối với giáo viên mầm non, khi đi vào thực hiện sẽ tạo điều kiện rất lớn cho các trẻ em có cơ hội được đến trường, được sớm tiếp cận tri thức, mở ra cơ hội có tương lai tốt đẹp, góp phần xây dựng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng cho các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
Minh Quang
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

VIDEO HOẠT ĐỘNG

KIẾN NGHỊ CỬ TRI














 


  



ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG
Địa chỉ: Số 01 Đường Đội Cấn - Phường Nguyễn Trãi - Thành phố Hà Giang - Tỉnh Hà Giang
Số điện thoại: 02193.867.356 - Fax: 02193.860.778
Email: bbt.dbnd@hagiang.gov.vn