LƯỢT TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 20

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 19


Hôm nayHôm nay : 4174

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 72390

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 5396186

LIÊN KẾT WEBSITE

ĐĂNG NHẬP

Ban hành và thực hiện hệ thống chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi Những vấn đề đáng chú ý

Thứ ba - 30/10/2018 23:05
Đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) sinh sống thành cộng đồng ở 51 tỉnh thành phố, 548 huyện, 5266 xã. Tập trung chủ yếu ở vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây Duyên hải miền trung. Có 9 tỉnh đồng bào DTTS chiếm trên 70% dân số; 3 tỉnh chiếm từ 50-70% dân số; 4 tỉnh từ 30-50% dân số; 14 tỉnh trên 10% dân số. 53 DTTS có 13,4 triệu người, chiếm 14,6% dân số cả nước. Địa bàn cư trú của đồng bào DTTS chiếm gần ¾ diện tích tự nhiên của cả nước. Đây là vùng núi cao, biên giới, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng an ninh, về môi trường sinh thái; giàu tiềm năng và lợi thế về kinh tế nông lâm nghiệp, khoáng sản, thủy điện, du lịch sinh thái, kinh tế biên mậu. Tuy nhiên đây cũng là khu vực thường xuyên gánh chịu hậu quả của thiên tai phần nào ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống người dân. Hiện nay, nhiều vấn đề nảy sinh trong vùng đồng bào cần giải quyết như: đời sống người dân di cư, tái định cư ở các công trình thủy điện, thủy lợi; tệ nạn xã hội; các thế lực thù địch, tà đạo tăng cường hoạt động chống phá, lôi kéo, kích động gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc... đã tác động ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh vùng miền núi, dân tộc.

Ngày 18 tháng 10 năm 2018, Hội đồng dân tộc của Quốc hội ban hành Báo cáo số 718/BC-HĐDT14 về việc thẩm tra kết quả 03 năm thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, miền núi (DTTS&MN) giai đoạn 2016 – 2018. Trong đó đã đưa ra những nhận định rất cụ thể về việc ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, những kết quả trên các lĩnh vực cụ thể như kết quả thực hiện giảm nghèo, kết quả xây dựng nông thôn mới ở vùng DTTS&MN, về đầu tư kết cấu hạ tầng, về bảo vệ và phát triển rừng, về dạy nghề và giải quyết việc làm, về giáo dục đào tạo, về y tế chăm sóc sức khỏe, về thông tin văn hóa thể thao và du lịch, về xây dựng đội ngũ cán bộ công chức viên chức người DTTS, và công tác ổn định dân cư, tái định cư cho đồng bào DTTS, đồng thời đưa ra những nguyên nhân tồn tại của những hạn chế bất cập và một số những kiến nghị.

Theo nhận định của Hội đồng dân tộc, những khó khăn, thách thức, với vùng đồng bào DTTS&MN đó là vùng có năm nhất so với mặt bằng chung của cả nước: Khu vực điều kiện tự nhiên khó khăn nhất; chất lượng nguồn nhân lực thấp nhất; kinh tế - xã hội phát triển chậm nhất; tiếp cận các dịch vụ, phúc lợi xã hội cơ bản kém nhất; và tỷ lệ nghèo cao nhất. Trong những năm qua Đảng, Nhà nước luôn quan tâm tạo mọi điều kiện hỗ trợ phát triển phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS&MN. Cả hệ thống chính trị, đã vào cuộc  hết sức quyết liệt để đồng hành với đồng bào DTTS, với rất nhiều các hoạt động cụ thể, nhưng quan trọng nhất đó là ban hành và thực hiện chính sách. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương đã có nhiều nỗ lực để triển khai các nghị quyết của Đảng, các nghị quyết của Quốc hội trong việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội đối với vùng DTTS&MN.

Chính phủ, đã ban hành 41 chính sách, trong đó có 15 chính sách trực tiếp; 26 chính sách chung gián tiếp cho đồng bào dân tộc và vùng DTTS&MN. Có 40 tỉnh, thành phố ban hành chính sách riêng của địa phương để hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội của đồng bào DTTS. Hệ thống chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS&MN ngày càng đồng bộ, toàn diện, bao phủ rộng khắp nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Nguồn ngân sách và huy động nguồn lực đầu tư phát triển toàn xã hội ngày càng tăng, từng bước đảm bảo cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và an sinh xã vùng DTTS&MN.

Việc tổ chức thực hiện chính sách từng bước được cải tiến nhằm tăng cường hiệu quả chính sách. Tuy nhiên, một số chính sách còn mang tính ngắn hạn, thiếu tính chiến lược. Có chính sách manh mún, dàn trải, chồng chéo về nội dung trùng lặp về địa bàn và đối tượng thụ hưởng (Có 12/54 chính sách trực tiếp cho đồng bào DTTS, vùng DTTS liên quan đến lĩnh vực giáo dục; 19/118 chính sách liên quan đến giáo dục đồng bào DTTS; 10/54 chính sách liên quan đến công tác cán bộ; 9/118 chính sách thuộc lĩnh vực Lâm nghiệp liên quan đến đồng bào DTTS). Trên cùng địa bàn, cùng đối tượng nhưng mức hỗ trợ một số chính sách khác nhau gây khó khăn trong thực hiện và đánh giá hiệu quả (như chính sách vay vốn phát triển sản xuất, hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ giáo dục). Nhiều chính sách hỗ trợ trực tiếp cho con người, giải quyết tình thế, chưa tập trung đầu tư phát triển để khai thác các thế mạnh của vùng, chưa có nhiều chính sách khuyến khích đồng bào DTTS vươn lên thoát nghèo bền vững. Mục tiêu chính sách đề ra lớn nhưng thời gian và nguồn lực bố trí hạn chế, thường phải kéo dài thêm. Các chương trình, chính sách, dự án đầu tư cho vùng DTTS&MN rất nhiều, do 10 Bộ, ngành quản lý, chủ trì chỉ đạo, cùng với đó là những quy định về cơ chế, nguồn lực khác nhau gây nên khó khăn trong tổ chức thực hiện và theo dõi, tổng hợp. Trong công tác quản lý nhà nước, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành trong triển khai, hướng dẫn thực hiện. Công tác theo dõi địa bàn, nắm bắt tình hình vùng DTTS&MN của một số bộ, ngành và địa phương chưa sâu sát, chậm tham mưu đề xuất giải quyết những vấn đề phát sinh…Thực hiện chính sách ở các địa phương còn gặp phải những vướng mắc do phân bổ nguồn lực thiếu, giải ngân chậm, cơ chế thủ tục chưa phù hợp, nhiều nơi chưa phát huy tốt vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp trong việc thực hiện chính sách dân tộc. Nguồn lực cân đối, bố trí cho thực hiện chính sách chưa đáp ứng, chưa kịp thời, chưa tách bạch được ngân sách đầu tư cho vùng DTTS&MN. Việc đưa số liệu vốn đầu tư chung cho 51 tỉnh, thành phố là đầu tư cho vùng DTTS&MN là chưa phù hợp (ví dụ: Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tổng nguồn vốn đầu tư công kế hoạch 2018 của 52 địa phương vùng DTTS&MN là 258.543 tỷ đồng, chiếm 85,1% vốn đầu tư toàn khối địa phương và chiếm 67,8% so với tổng dự toán đầu tư phát triển nguồn ngân sách nhà nước năm 2018). Một số chính sách do chưa bố trí đủ nguồn lực nên phải kéo dài thời gian thực hiện so với kế hoạch ban đầu. Nhiều chương trình, chính sách do Ủy ban Dân tộc quản lý nguồn lực chưa được đáp ứng theo nhu cầu; một số chính sách đã ban hành từ năm 2016 nhưng vẫn chưa được cân đối, bố trí vốn để thực hiện (Quyết định số 2085/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 của Thủ thướng Chính phủ Phê duyệt chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS&MN giai đoạn 2017-2020; Quyết định số 2086/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 của Thủ thướng Chính phủ Phê duyệt đề án hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội các DTTS giai đoạn 2016-2025 ).

Để chính sách đối với vùng DTTS&MN thực sự đi vào cuộc sống, Hội đồng dân tộc của Quốc hội đã đưa ra một số kiến nghị và đề xuất như: Đề nghị Chính phủ rà soát, làm rõ về số lượng chính sách hỗ trợ phát triển vùng DTTS&MN hiện nay trên cơ sở tiêu chí thống nhất về đối tượng, phạm vi, lược bỏ sự trùng lắp, không đồng nhất số lượng văn bản với số lượng chính sách; lược bỏ văn bản quy định chính sách chung nhưng không có đối tượng là vùng DTTS&MN; chỉ đạo tổng kết việc thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển vùng DTTS&MN (nhất là những chủ trương, chính sách lớn), để có cơ sở xây dựng, ban hành chính sách mới cho giai đoạn tiếp theo, khắc phục những tồn tại, hạn chế, bất cập của việc thực hiện chính sách trong giai đoạn vừa qua; Ban hành quy định thống kê, báo cáo, cung cấp thông tin riêng về vùng DTTS&MN. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác theo dõi, giám sát, đánh giá, kiểm tra, thanh tra, sơ kết, tổng kết quá trình tổ chức thực hiện chính sách dân tộc ở cả trung ương và địa phương, như đã nêu trong Nghị định số 05/2011/NĐ-CP, ngày 14/01/2011 của Chính phủ về Công tác dân tộc; Hằng năm cân đối, bố trí nguồn lực thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách hỗ trợ vùng DTTS&MN.

Trong việc hỗ trợ phát triển phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS&MN, thì khâu ban hành hệ thống chính sách là cơ sở quan trọng để các cấp, các ngành triển khai thực hiện. Những kiến nghị của Hội đồng dân tộc của Quốc hội với Chính phủ là hợp lý, đảm bảo có một hệ thống chính sách khoa học, phù hợp, đáp ứng tâm tư, nguyện vọng của đồng bào sinh sống tại khu vực DTTS&MN./.
Minh Quang
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

VIDEO HOẠT ĐỘNG

KIẾN NGHỊ CỬ TRI















 




ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG
Địa chỉ: Số 01 Đường Đội Cấn - Phường Nguyễn Trãi - Thành phố Hà Giang - Tỉnh Hà Giang
Số điện thoại: 02193.867.356 - Fax: 02193.860.778
Email: bbt.dbnd@hagiang.gov.vn