LƯỢT TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 100

Máy chủ tìm kiếm : 4

Khách viếng thăm : 96


Hôm nayHôm nay : 31095

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 147796

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 21995238

LIÊN KẾT WEBSITE

ĐĂNG NHẬP

Thẩm quyền Hội đồng nhân dân các cấp theo Quy định của Luật đầu tư công

Chủ nhật - 23/10/2022 23:33
Ngày 13 tháng 6 năm 2019 Quốc hội khóa 14 ban hành Luật đầu tư công số 39/2019/QH14, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2020; Quốc hội khóa 15 ban hành Luật số 30/2022/QH15 ngày 11 tháng 01 năm 2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư công và một số luật chuyên ngành khác, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 03 năm 2022. Đến nay sau gần 3 năm thực hiện, một số Hội đồng nhân dân các cấp còn băn khoăn, vướng mắc về thẩm quyền của HĐND. Xin được trao đổi như sau:
Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh họp thẩm tra văn bản trình Kỳ họp thứ Tám (chuyên đề)

Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh họp thẩm tra văn bản trình Kỳ họp thứ Tám (chuyên đề)

Thứ nhất, thẩm quyền của Hội đồng các cấp trong quyết định chủ trương đầu tư các chương trình, dự án: Theo quy định tại khoản 5a, khoản 6, khoản 7 Điều 17 Luật đầu tư công và khoản 1 Điều 83.

Hội đồng nhân dân cấp tỉnh: Quyết định chủ trương đầu tư dự án đầu tư nhóm B, nhóm C sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, quyết định phê duyệt dự án hỗ trợ kỹ thuật sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài để chuẩn bị dự án đầu tư do địa phương quản lý. Quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm A do địa phương quản lý; Quyết định chủ trương đầu tư chương trình dự án nhóm B, nhóm C sử dụng vốn ngân sách địa phương, bao gồm cả vốn bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên, các nguồn vốn hợp pháp của địa phương thuộc cấp mình quản lý.

Hội đồng nhân dân cấp cấp huyện, cấp xã: quyết định chủ trương đầu tư chương trình dự án nhóm B, nhóm C sử dụng vốn ngân sách địa phương, bao gồm cả vốn bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên, các nguồn vốn hợp pháp của địa phương thuộc cấp mình quản lý.

 Ngoài ra Luật cũng quy định “Trong trường hợp cần thiết, Hội đồng nhân dân quyết định việc giao cho Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm B, nhóm C phù hợp với mục tiêu, định hướng phát triển, khả năng tài chính và đặc điểm cụ thể của địa phương". Tuy nhiên hiện nay, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chưa giao cho Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án nêu trên.

Về điều kiện để quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án: chương trình, dự án phải phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và các quy hoạch có liên quan theo quy định của pháp luật về quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt; không trùng lặp với các chương trình, dự án đã có quyết định chủ trương đầu tư hoặc đã có quyết định đầu tư; phù hợp với khả năng cân đối nguồn vốn đầu tư công và khả năng huy động các nguồn vốn khác đối với chương trình, dự án sử dụng nhiều nguồn vốn; phù hợp với khả năng vay, trả nợ công, nợ Chính phủ và nợ chính quyền địa phương; bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh và phát triển bền vững. Nghiêm cấm quyết định chủ trương đầu tư không phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; không xác định được nguồn vốn và khả năng cân đối vốn; không đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Nghị quyết của Hội đồng nhân dân về phê duyệt chủ trương đầu tư chương trình, dự án bao gồm: mục tiêu đầu tư, phạm vi, quy mô, tổng vốn đầu tư, cơ cấu nguồn vốn, địa điểm, thời gian, tiến độ, dự kiến kế hoạch bố trí vốn, cơ chế và giải pháp, chính sách thực hiện.

Thứ hai, thẩm quyền của Hội đồng nhân dân các cấp trong điều chỉnh chủ trương đầu tư chương trình, dự án:

Căn cứ khoản 1 Điều 34 Luật đầu tư công quy định: “cấp quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án thì có thẩm quyền điều chỉnh chủ trương đầu tư chương trình, dự án đó và chịu trách nhiệm về quyết định của mình”. Khỏan 5 Điều 43 Luật đầu tư công quy định: “trường hợp điều chỉnh làm tăng tổng mức đầu tư dự án lớn hơn tổng mức đầu tư đã được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, dự án phải thực hiện trình tự, thủ tục quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư trước khi cấp có thẩm quyền quyết định điều chỉnh dự án.

Như vậy, Hội đồng nhân dân các cấp sẽ quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư trong 2 trường hợp:

Trường hợp 1: Dự án đã được HĐND quyết định chủ trương đầu tư nhưng chưa quyết định đầu tư (UBND chưa ra quyết định đầu tư dự án, dự án chưa triển khai), nay đề nghị thay đổi, điều chỉnh nội dung của quyết định chủ trương đầu tư. Căn cứ điểm d, khoản 2, Điều 34 thì dự án phải thực hiện lại trình tự, thủ tục quy định tại điều 27 của Luật đầu tư công (phải lập lại báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư, có báo cáo của Hội đồng thẩm định về đề xuất chủ trương đầu tư, thẩm định về nguồn vốn và khả năng cân đối vốn), trình HĐND xem xét, ban hành Nghị quyết điều chỉnh chủ trương đầu tư.

Trường hợp 2: Dự án đã được HĐND quyết định chủ trương đầu tư, UBND đã ra quyết định đầu tư và đang trong quá trình thực hiện nhưng do nhiều nguyên nhân bất khả kháng phải thay đổi mục tiêu, quy mô, chi phí và thời gian nhưng làm tăng tổng mức đầu tư dự án lớn hơn tổng mức đầu tư ban đầu đã được HĐND quyết định chủ trương đầu tư thì HĐND sẽ xem xét quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư.

Về hồ sơ đề nghị điều chỉnh chủ trương đầu tư theo khoản 3 Điều 11 Nghị định 40/2020/NĐ-CP ngày 6/4/2020 về hướng dẫn thực hiện Luật đầu tư công.

Thứ ba, thẩm quyền của Hội đồng nhân dân về xem xét, cho ý kiến về kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm của địa phương (bao gồm danh mục và mức bố trí vốn cho từng dự án sử dụng vốn Ngân sách Trung ương bổ sung có mục tiêu), theo quy định tại khoản 2 Điều 83 và Điều 55, 56 Luật đầu tư công.

Về Kế hoạch đầu tư công trung hạn (Điều 55): Trước ngày 15 tháng 8 năm thứ tư của kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn trước, Bộ Kế hoạch và đầu tư hướng dẫn các địa phương về mục tiêu, yêu cầu, nội dung, thời gian, tiến độ lập kế hoạch đầu tư công trung hạn; Ủy ban nhân dân tỉnh hướng dẫn cho các đị phương. Trên cơ sở hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và đầu tư, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (đối với cấp huyện), Ủy ban nhân dân cùng cấp giao cho cơ quan chuyên môn lập, thẩm định kế hoạch trung hạn của địa phương mình, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp cho ý kiến về kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn sau của cấp mình (lần 1).

Sau khi có ý kiến thẩm định của Bộ Kế hoạch và đầu tư, Ủy ban nhân dân tỉnh giao Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã hoàn chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp cho ý kiến (lần 2) trước ngày 31 tháng 5 năm thứ năm của kế hoạch đầu tư công trung giai đoạn trước. Cơ quan chuyên môn cấp tỉnh (Sở kế hoạch Đầu tư) thẩm định, hoàn chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn cấp tỉnh, báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh, trình Hội đồng nhân dân tỉnh cho ý kiến (lần 2) trước ngày 15 tháng 6 năm thứ năm của kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn trước.

Như vậy, việc cho ý kiến về kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn sau, Hội đồng nhân dân các cấp sẽ cho ý kiến 2 lần theo mốc thời gian nêu trên.

Về Kế hoạch đầu tư công hàng năm (Điều 56): Sau khi có hướng dẫn của các Bộ, cơ quan Trung ương và UBND cấp tỉnh, trước ngày 20 tháng 7 hàng năm, cơ quan chuyên môn quản lý đầu tư công cấp tỉnh, cấp huyện, xã lập, thẩm định, tổng hợp kế hoạch đầu tư công năm sau trong phạm vi nhiệm vụ được giao và nguồn vốn thuộc cấp mình quản lý báo cáo Ủy ban dân nhân cùng cấp.

Trước ngày 25 tháng 7 hàng năm, Ủy ban nhân dân báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua dự kiến kế hoạch đầu tư công năm sau. Như vậy về dự kiến kế hoạch đầu tư công hàng năm, Hội đồng nhân dân sẽ cho ý kiến một lần để UBND tỉnh hoàn chỉnh kế hoạch đầu tư công năm sau gửi Bộ Kế hoạch Đầu tư và Bộ Tài chính.

Thứ tư, thẩm quyền của Hội đồng nhân dân về Quyết định kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm của địa phương (bao gồm tòan bộ danh mục và mức bố trí cho từng dự án sử dụng vốn ngân sách địa phương) theo khoản 3 Điều 83, Điều 62 và Điều 63 Luật đầu tư công.

Về kế hoạch đầu tư công trung hạn (Điều 62): Trước ngày 05 tháng 12 năm thứ năm của kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn trước, Hội đồng nhân dân cùng cấp cho ý kiến về “Nội dung báo cáo kế hoạch đầu tư công trung hạn trình cấp có thẩm quyền phê duyệt”, bao gồm: (1) tình hình triển khai và kết quả thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn trước; (2) Mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội; mục tiêu định hướng cơ cấu đầu tư theo ngành, lĩnh vực trong trung hạn (việc phân loại theo ngành, lĩnh vực thực hiện theo quy định của Luật NSNN); (3) khả năng huy động và cân đối các nguồn vốn; dự kiến tổng vốn đầu tư để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, ngành lĩnh vực trung hạn, bao gồm vốn thực hiện quy hoạch, nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư, thực hiện dự án, hoàn trả các khoản ứng trước, hoàn trả các khoản vốn vay khác của ngân sách đị phương để đầu tư. (4) Tổng mức vốn của từng cơ quan, tổ chức được giao kế hoạch vốn đầu tư công sử dụng nguồn ngân sách địa phương chi tiết theo từng ngành, lĩnh vực và mức vốn bổ sung có mục tiêu cho ngân sách cấp dưới. (5) nguyên tắc, tiêu chí phân bổ vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn. (6) sắp xếp thứ tự ưu tiên, lựa chọn danh mục dự án và mức bố trí vốn cụ thể cho từng dự án trong trung hạn phù hợp với khả năng cân đối vốn đầu tư công và khả năng huy động các nguồn vốn khác để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ và định hướng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm. (7) giải pháp thực hiện và kết quả đạt được.

Hội đồng nhân dân cấp tỉnh: căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội về đầu tư công trung hạn giai đoạn mới và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm quyết định kế hoạch đầu tư công trung hạn của địa phương, bao gồm: tổng mức vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn, danh mục, mức bố trí vốn cho từng dự án sử dụng nguồn ngân sách cấp tỉnh và mức vốn bổ sung có mục tiêu cho ngân sách cấp dưới.

Hội đồng nhân dân cấp huyện: căn cứ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh về kế hoạch đầu tư công trung hạn, quyết định kế hoạch đầu tư công trung hạn cấp mình, bao gồm tổng mức vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn, danh mục, mức vốn ngân sách địa phương bố trí cho từng dự án và mức vốn bổ sung có mục tiêu cho ngân sách cấp dưới.

Hội đồng nhân cấp xã: căn cứ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện về kế hoạch đầu tư công trung hạn, quyết định kế hoạch đầu tư công trung hạn cấp mình, bao gồm tổng mức vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn, danh mục, mức vốn ngân sách địa phương bố trí cho từng dự án.

Như vậy, theo quy định của Luật đầu tư công thì Hội đồng nhân dân 3 cấp (tỉnh, huyện, xã) đều phải thông Nghị quyết về kế hoạch đầu tư công trung hạn cấp mình.

Điều kiện để chương trình, dự án được đưa vào kế hoạch đầu tư công trung hạn: Phải tuân thủ các nguyên tắc, tiêu chí phân bố vốn theo quy định của pháp luật và đáp ứng một trong các điều kiện sau: (1) Dự án chuyển tiếp thuộc danh mục của kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn trước; (2) Các danh mục chương trình, dự án đã được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, các dự án mới phải đảm bảo thời gian bố trí vốn thực hiện các dự án, nhóm A không qua 6 năm, nhóm B không quá 04 năm, nhóm C không quá 3 năm. (trường hợp không đáp ứng thời hạn trên, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định thời gian bố trí vốn thực hiện các dự án đối với dự án sử dụng vốn ngân sách địa phương) (3) Các nhiệm vụ, dự án không phải quyết định chủ trương đầu tư (khoản 6 điều 18 Luật đầu tư công).

Về phê duyệt và giao kế hoạch đầu tư công hàng năm: (Điều 63 Luật đầu tư công).

Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định kế hoạch đầu tư công năm sau của cấp mình trước ngày 10 tháng 12 hàng năm, bao gồm danh mục và mức vốn bố trí cho từng dự án.

Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã quyết định kế hoạch đầu tư công năm sau của cấp mỉnh, bao gồm danh mục và mức vốn bố trí cho từng dự án trước ngày 20 tháng 12 hàng năm (sau khi Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành Nghị quyết về kế hoạch đầu tư công năm sau).

Như vậy, theo quy định của Luật đầu tư công thì Hội đồng nhân dân 3 cấp (tỉnh, huyện, xã) đều phải thông Nghị quyết về kế hoạch đầu tư công hàng năm của cấp mình.

Điều kiện để chương trình, dự án được bố trí vốn kế hoạch đầu tư công hàng năm: Chương trình, dự án, đối tượng đầu tư công khác phải có trong kế hoạch đầu tư công trung hạn, trừ dự án đầu tư công khẩn cấp; chương trình, dự án, nhiệm vụ, đối tượng đầu tư công khác đã được cấp có thẩm quyền quyết định.

Thứ năm, thẩm quyền của Hội đồng nhân dân các cấp quyết định dự phòng trung hạn: Theo quy định tại khoản 6 Điều 51 quy định “Hội đồng nhân dân các cấp quyết định mức vốn, việc sử dụng, thời điểm sử dụng dự phòng chung kế hoạch đầu tư công trung hạn nguồn ngân sách cấp mình quản lý”. Như vậy, Hội đồng nhân dân chỉ quyết định mức dự phòng chung kế hoạch đầu tư công trung hạn, không quyết định mức vốn dự phòng hàng năm.

Thứ sáu, thẩm quyền của Hội đồng nhân dân các cấp điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm vốn ngân sách địa phương trong các trường hợp sau: Do điều chỉnh mục tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương; do thay đổi đột biến về cân đối thu ngân sách địa phương hoặc khả năng huy động các nguồn vốn của địa phương; do thay đổi nhu cầu sử dụng hoặc khả năng triển khai thực hiện vốn kế hoạch hàng năm giữa các cơ quan, đơn vị của địa phương.

Thứ bảy, về thẩm quyền của Hội đồng nhân dân về kéo dài thời gian giải ngân sang năm sau. Theo quy định tại Điều 68 Luật đầu tư công, thời gian thực hiện và giải ngân vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn trước đến hết ngày 31 tháng 01 năm đầu tiên của kế hoạch đầu tiên của kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn sau. Thời gian thực hiện và giải ngân vốn kế hoạch đầu tư công hàng năm đến ngày 31 tháng 01 năm sau.

Việc kéo dài thời gian giải ngân vốn đầu tư công hàng năm sang năm sau do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định đối với vốn ngân sách địa phương nhưng không quá 31 tháng 12 năm sau. Như vậy, việc kéo dài thời gian giải ngân Quốc hội chỉ quy định thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh (vốn ngân sách địa phương bao gồm ngân sách cấp tỉnh, huyện, xã). Quy định này nhằm tăng cường tính kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm việc giải ngân tối đa kế hoạch vốn được giao hàng năm đồng thời thực hiện phân cấp cho các địa phương, tạo điều kiện linh hoạt cho các địa phương trong việc phân bổ, điều chuyển kế hoạch vốn các các nhiệm vụ, dự án có khả năng thực hiện và giải ngân trong năm phù hợp với khả năng và điều kiện thực tế của tỉnh.

Các trường hợp được phép kéo dài thời gian giải ngân sang năm sau, bao gồm: (1) dự án quan trọng quốc gia; (2) dự án bồi thường, hỗ trợ tái định cư, giải phóng mặt bằng; (3) dự án được bố trí kế hoạch vốn để hoàn thành, đưa vào sử dụng trong năm kế hoạch nhưng không được bố trí vốn kế hoạch năm sau; (4) dự án được bổ sung kế hoạch từ nguồn tăng thu, tiết kiệm chi, kết dư ngân sách nhà nước, dự phòng ngân sách nhà nước hàng năm nhưng chưa được cấp có thẩm quyền cho phép giải ngân vào năm sau; (5) dự án bị ảnh hưởng tiến độ do thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, nguyên nhân khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phụ được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép; (6) dự án cơ quan đại diện và cơ quan khác của Việt Nam ở nước ngoài; (7) địa phương chỉ có duy nhất 01 dự án trong năm kế hoạch không thể thực hiện điều chỉnh kế hoạch.

Ngoài ra, theo quy định tại Khoản 2 Điều 89 Luật đầu tư công quy định “cơ quan, tổ chức, cá nhân và người đứng đầu tổ chức quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án có thời gian thực hiện trong 02 kỳ kế hoạch đầu tư công trung hạn liên tiếp phải bảo đảm tổng số giá trị tổng mức đầu tư của các chương trình, dự án phải thực hiện trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn sau không vượt quá 20% tổng số vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn trước của địa phương đó”.

Lưu ý, để thực hiện thống nhất theo đúng quy định của Luật ngân sách nhà nước, Luật tổ chức chính quyền địa phương, Luật đầu tư công, các thẩm quyền của Hội đồng nhân dân các cấp được quy định tại Luật đầu tư công nêu trên không được phép ủy quyền cho Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định. Trường hợp cần thiết, Hội đồng nhân dân có thể tổ chức kỳ họp chuyên đề để quyết định các nội dung thuộc thẩm quyền.
 Bình Yên
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: nhân dân, băn khoăn
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

VIDEO HOẠT ĐỘNG

KIẾN NGHỊ CỬ TRI


















 





ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG
Địa chỉ: Số 01, Đường 26/3 - Phường Nguyễn Trãi - Thành phố Hà Giang - Tỉnh Hà Giang
Số điện thoại: 
02193.860.778 - Fax: 02193.860.778
Email: bbt.dbnd@hagiang.gov.vn hoặc 
tttthdndhg@gmail.com