LƯỢT TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 33

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 32


Hôm nayHôm nay : 3438

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 59963

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2927702

LIÊN KẾT WEBSITE

ĐĂNG NHẬP

Quan tâm đảm bảo việc giáo dục với trẻ em

Thứ hai - 02/04/2018 11:01
Quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu của trẻ em, việc bảo đảm về giáo dục cho trẻ em đã được ghi nhận trong Luật Trẻ em tại điều 16, và điều 44. Theo đó thì trẻ em có quyền được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân, được bình đẳng về cơ hội học tập và giáo dục; được phát triển tài năng, năng khiếu, sáng tạo, phát minh. Nhà nước có chính sách hỗ trợ để đảm bảo.


Trên thực tế, Nhà nước đã ban hành các chính sách để hỗ trợ trong lĩnh vực giáo dục cho trẻ em nói chung và trẻ em trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em đang sinh sống tại các xã biên giới, miền núi, hải đảo và các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nói riêng. Các chính sách hỗ trợ đó tập trung vào việc:

Chính sách học bổng Học sinh trường PTDTNT, trường DBĐH, được hưởng học bổng bằng 80% mức lương tối thiểu chung/HS/tháng và được hưởng 12 tháng/năm (theo Quyết định số 82/2006/QĐ-TTg ngày 14/4/2006 và Quyết định số 152/2007/QĐ-TTg ngày 14/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ).

Chính sách hỗ trợ học tập Trẻ em mẫu giáo 3-5 tuổi đi học tại các cơ sở giáo dục mầm non thuộc các xã biên giới, núi cao, hải đảo và các xã có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn được hỗ trợ bữa ăn trưa tại trường bằng 10% mức lương cơ sở/trẻ/tháng (một năm học 9 tháng) (theo Quyết định số 239/2009/QĐ-TTg ngày 09/02/2010 và Quyết định số 60/2011/QĐ-TTg ngày 26/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ, Nghị định 06/2018/NĐ-CP ngày 05/ 01/ 2018 quy định chính sách hỗ trợ ăn trưa đối với trẻ em mẫu giáo và chính sách đối với giáo viên mầm non);  HS bán trú cấp tiểu học, trung học cơ sở, HS trung học phổ thông là người DTTS ở vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn nhà ở xa trường, không thể đi đến trường và trở về nhà trong ngày được hỗ trợ tiền ăn (40% mức lương tối thiểu chung) và tiền nhà ở (10% mức lương tối thiểu chung), hỗ trợ 15 kg gạo/tháng/HS (theo Nghị định số 116/2016/NĐ-CP ngày 18/7/2016 của Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ HS và trường phổ thông ở xã, thôn đặc biệt khó khăn);HS trường PTDTNT, trường DBĐH còn được hưởng các chế độ hỗ trợ khác như: hỗ trợ tiền tàu xe nghỉ hè hoặc nghỉ tết; học phẩm; tiền điện nước, bảo hiểm y tế (theo Thông tư liên tịch số 109/2009/TTLT/BTC-BGDĐT ngày 29/5/2009 của Bộ Tài chính và Bộ GDĐT).

Chính sách miễn, giảm học phí: Học sinh trường PTDTNT, trường DBĐH, khoa DBĐH, học sinh người DTTS rất ít người, ở vùng có điều kiện KT-XH khó khăn và đặc biệt khó khăn được miễn học phí. Trẻ em học mẫu giáo và học sinh là người dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn được giảm học phí 70%( Theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP, ngày 02/10/2015 của Chính phủ quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2015-2016 đến năm học 2020-2021).

Chính sách phát triển giáo dục đối với các dân tộc thiểu số rất ít người: Hỗ trợ học tập đối với trẻ em, học sinh, sinh viên 16 dân tộc thiểu số rất ít người (có số dân dưới 10.000 người) học tại các cơ sở giáo dục mầm non, trường tiểu học, THCS, THPT, trường PTDTBT, trường PTDTNT, tùy từng đối tượng, được hưởng chính sách hỗ trợ về học tập hằng tháng từ 30% đến 100% mức lương tối thiểu chung. Ưu tiên tuyển sinh vào các cấp học (theo Nghị định số 57/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 quy định chính sách ưu tiên tuyển sinh và hỗ trợ học tập đối với trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh viên các dân tộc thiểu số rất ít người)

Đối với Hà Giang là tỉnh miền núi biên giới, số  trẻ em trong diện trẻ em thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em đang sinh sống tại các xã biên giới, miền núi, hải đảo và các xã có Điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn chiếm tỷ lệ lớn. Cấp ủy, chính quyền trong tỉnh đã vận dụng các chính sách của trung ương đã ban hành. Ngoài ra Hội đồng nhân dân tỉnh còn ban hành Nghị quyết số 22/2011/NQ-HĐND ngày 15/7/2011 về Ban hành chính sách hỗ trợ học sinh bán trú, học sinh nghèo không thuộc đối tượng hưởng theo Quyết định 2123/2013/QĐ-TTg; Quyết định số 85/2010/QĐ-TTg ngày 21/12/2010 của Thủ tướng Chính Phủ; chính sách hỗ trợ đối với cán bộ quản lý, người phục vụ học sinh bán trú tại các trường phổ thông công lập trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Theo đó hỗ trợ tiền ăn từ 0,1 đến  0,2 mức lương tối thiểu chung/tháng/học sinh và hỗ trợ tiền thuê trọ học đến 0,1 mức lương tối thiểu chung/tháng/học sinh tùy theo từng đối tượng học sinh.

Những chính sách hỗ trợ về giáo dục nêu nêu trên đã đảm bảo cho trẻ em  trên địa bàn tỉnh Hà Giang thực hiện được quyền của mình. Đặc biệt việc hỗ trợ chi phí học tập, miễn giảm học phí, hỗ trợ tiền ăn, ở cho học sinh bán trú đã phát huy hiệu quả, góp phần giảm bớt gánh nặng tài chính cho phụ huynh học sinh, tạo điều kiện để trẻ em, học sinh nghèo có hoàn cảnh khó khăn được tiếp tục đến trường. Con em đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa được học tập ở tất cả các cấp học, bậc học, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Tính đến hết năm học 2016-2017, tỷ lệ huy động trẻ 0-2 tuổi ra lớp đạt 32,78%; trẻ 3-5 tuổi đến trường đạt 98,0% (riêng tỷ lệ huy động  trẻ 5 tuổi đến trường đạt 99,5%) so với dân số trong độ tuổi. 194/195 đơn vị cấp xã đạt chuẩn phổ cập cho trẻ mầm non đạt 99,49%; 11/11đơn vị cấp huyện đạt chuẩn đạt 100%. Tuyển sinh vào lớp 1 đạt tỷ lệ 99,67%, Tuyển sinh vào lớp 6 đạt tỷ lệ 98,56%  Tỷ lệ huy động trẻ 6 đến 14 tuổi đến trường đạt 98,5% dân số trong độ tuổi. Tỷ lệ huy động học sinh tốt nghiệp THCS vào học THPT và tương đương đạt 64,9%.

Ngoài việc thực hiện các chính sách, ngành Giáo dục của Hà Giang đã có nhiều cách làm sáng tạo để đảm bảo được tốt nhất trong việc chăm sóc và thu hút trẻ đến lớp và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân, được phát triển tài năng, năng khiếu, sáng tạo của học sinh. Đã xuất hiện nhiều mô hình hay trong giáo dục trẻ em như: mô hình đưa văn hóa các dân tộc thiểu số vào truyền dạy trong trường học; mô hình giáo dục, bảo tồn, phát huy giá trị của công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn; mô hình xã hội hóa để huy động nguồn lực phát triển cơ sở vật chất GD&ĐT; mô hình tổ chức lao động, tăng gia sản xuất cải thiện bữa ăn cho học sinh nội trú, bán trú ở một số nhà trường; mô hình phối hợp trách nhiệm giữa trung tâm học tập cộng đồng với chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể; mô hình phát triển nhóm trẻ. Ngoài ra các trường học đã tổ chức các hoạt động như: Tổ chức các cuộc thi, giao lưu "vẻ đẹp dân tộc", “thi hát dân ca” ở các trường tiểu học, THCS, THPT. Tìm hiểu phong tục tập quán các dân tộc tỉnh Hà Giang, địa lý Hà Giang, lịch sử Hà Giang, các tác phẩm văn xuôi, thơ... viết về Hà Giang. Tham quan, khảo sát, tìm hiểu thực tế tại các bản làng, khai thác kinh nghiệm vốn có trong học sinh. Thành lập các câu lạc bộ sức khỏe sinh sản vị thành niên, phòng chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết, câu lạc bộ múa khèn, võ dân tộc, thêu truyền thống. Phối hợp và thực hiện biên soạn bộ tài liệu tuyên truyền, biên soạn vở luyện viết cho học sinh cấp tiểu học về công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn các danh lam thắng cảnh, giá trị các di sản và bản sắc văn hóa các dân tộc trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Tổ chức đội tình nguyện vẽ tranh tường, đội cắt tóc lưu động trên địa bàn huyện. Phối hợp với lực lượng Quân sự để giáo dục kỹ năng sống cho các học sinh.

Tuy nhiên, quá trình thực hiện các chính sách vẫn còn những bất cập. Một số chính sách chưa thống nhất, chưa được hướng dẫn cụ thể dẫn đến việc triển khai thực hiện khác nhau (Nghị định 116/2016/NĐ-CP, Nghị định 86/2015/NĐ-CP).

Phần lớn các trường phổ thông dân tộc bán trú còn thiếu phòng ở hoặc phòng học, phòng ở chưa đảm bảo diện tích tối thiểu, nhiều phòng còn tạm bợ, chủ yếu là nhà bán kiến cố hoặc nhà cấp 4 được xây dựng từ lâu, nay đã hư hỏng và xuống cấp, thiếu các điều kiện tối thiểu như giường ngủ, chăn màn, thiếu công trình vệ sinh, nhà tắm, nước sạch; thiếu  trang thiết bị nhà bếp, đồ dùng cá nhân phòng ăn cho học sinh. Những nội dung này thực tế phụ thuộc rất nhiều vào nguồn xã hội hóa của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Một số trường có học sinh bán trú đông nhưng không được là trường trường phổ thông dân tộc bán trú vì không đạt tỷ lệ học sinh ở tại trường, nên rất khó khăn trong việc đầu tư cơ sở vật chất của nhà trường. Một số trường vị trí địa lý hiểm trở, chưa đảm bảo  không gian sinh hoạt chung của học sinh.

Việc tổ chức được bữa ăn trưa cho trẻ mầm non còn gặp nhiều khó khăn so với mức trợ cấp và điều kiện thực tiễn. Tại một số trường phổ thông dân tộc bán trú, học sinh ở bán trú còn quá nhỏ (từ 6 tuổi) việc chăm sóc các cháu gặp nhiều khó khăn. Một số nội dung chi trả chính sách qua bưu điện đến phụ huynh học sinh, một số trường học trực tiếp học sinh không được thụ hưởng. Một số phụ huynh chưa thật sự quan tâm, thậm còn phó mặc công tác giáo dục cho thầy cô giáo.

Để đảm bảo quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu và bảo đảm về giáo dục cho trẻ em, đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt hơn nữa của cả hệ thống chính trị, của mỗi người dân. Trong đó cần tập trung vào các nội dung sau:

Thứ nhất, Nâng cao nhận thức của  các cấp, các ngành và mọi người về quyền trẻ em trong giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu. Trong đó cấp ủy, chính quyền và các ngành phải thấm nhuần quan điểm, những nội dung chính sách cụ thể trong việc hỗ trợ giáo dục đối với trẻ em để triển khai thực hiện đạt hiệu quả. Ngành giáo dục và đào tạo thật sự sáng tạo, đổi mới, linh hoạt trong việc tham mưu và thực hiện chính sách, ngoài chính sách đối với trẻ em, phải quan tâm đến chế độ chính sách với các thầy cô giáo, để họ yên tâm công tác, hết lòng, hết sức vì sự nghiệp giáo dục.

Thứ hai, Đề nghị Chính phủ và ngành Giáo dục tiếp tục rà soát hệ thống chính sách, đảm bảo sự thống nhất của chính sách trong quá trình thực hiện. Các định mức của chính sách cần có sự phù hợp với từng vùng miền (nhất là việc trang thiết bị cho các trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú). Cần quy định việc hỗ trợ cho các trường có học sinh bán trú căn cứ vào số lượng học sinh nghỉ tại trường chứ không chỉ căn cứ vào tỷ lệ phần trăm học sinh bán trú trên tổng số học sinh. Nghiên cứu ban hành chính sách đối với cán bộ giáo viên chăm sóc học sinh ăn ở nội trú trong lứa tuổi nhi đồng, để đảm bảo các em được chăm sóc chu đáo.

Trong việc đề xuất sửa đổi bổ sung Luật Giáo dục cần chú ý những nội dung có liên quan đến giáo dục cho trẻ em vùng miền núi, đối với các chương trình cần chú ý nội dung phù hợp vói đối tượng trẻ em ở các vùng miền khác nhau nhất là việc giáo dục về kỹ năng sống.  

Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo tham mưu cho Chính phủ ban hành chính sách hỗ trợ bữa ăn trưa cho học sinh tiểu học có hộ khẩu thường trú ở vùng kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn đang theo học tại các điểm trường và trường chính khi thực hiện chương trình dạy học 2 buổi/ngày bắt buộc; bổ sung thêm đối tượng hưởng chính sách theo Nghị định 86/2015/NĐ-CP, cụ thể: Trẻ mầm non 5 tuổi và học sinh phổ thông ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng chế độ miễn học phí hoàn toàn.

Thứ ba, Đề nghị Chính phủ tiếp tục chỉ đạo thực hiện và dành nguồn lực ưu tiên để thực hiện các đề án, chương trình kiên cố hóa trường lớp, học đối với vùng miền núi, vùng kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, nhất là đối với các khu vực địa hình hiểm trở, quá trình thiết kế, xây dựng cần chú trọng các hạng mục đảm bảo an toàn cho học sinh.

Thứ tư, thường xuyên kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện các chương trình đề án, đảm bảo không lãng phí. Cách thức thực hiện cac chính sách đảm bảo sự thụ hưởng đầy đủ của học sinh, đồng thời cải cách hành chính trong các khâu thực hiện, nhất là về việc thủ tục xét duyệt chính sách.

Thứ năm , Mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên giám sát việc việc thực hiện chính sách từ cơ sở, đánh giá hiệu quả của của việc thực hiện chính sách và kịp thời có ý kiến với cơ quan chức năng để đảm bảo chính sách được thực hiện đúng. Tuyên truyền giáo dục về quyền của trẻ em, nội dung của chính sách đến các đoàn viên, hội viên của mình để vận động toàn dân tham gia thực hiện đảm bảo quyền cho trẻ em, nhất là các bậc phụ huynh. Vận động các bậc phụ huynh thấy được trách nhiệm chính của mình trong việc chăm sóc giáo dục trẻ em phát triển toàn diện, chủ động phối hợp với nhà trường để giáo dục các em.

Trẻ em là tương lai của xã hội, việc ban hành và thực hiện các chính sách hỗ trợ nói chung và hỗ trợ trong lĩnh vực giáo dục nói riêng, nhằm đảm bảo cho các em thực hiện được quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu, cũng như hiểu rõ và thực hiện bổn phận của trẻ em đối với nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở giáo dục khác. Khi chính sách phù hợp sẽ thúc đẩy động cơ học tập của các em và giúp chúng ta có một thế hệ công dân có tri thức và đạo đức, góp phần xây dựng quê hương Hà Giang tươi đẹp. Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng cấp ủy, chính quyền Hà Giang đã luôn quan tâm tạo điều kiện tốt nhất có thể cho các em. Tuy nhiên để chính sách đi vào cuộc sống, có hiệu quả thiết thực, rất cần sự quan tâm vào cuộc của hệ thống chính trị và cả xã hội.
Minh Quang
 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

VIDEO HOẠT ĐỘNG

KIẾN NGHỊ CỬ TRI














 


  



ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG
Địa chỉ: Số 01 Đường Đội Cấn - Phường Nguyễn Trãi - Thành phố Hà Giang - Tỉnh Hà Giang
Số điện thoại: 02193.867.356 - Fax: 02193.860.778
Email: bbt.dbnd@hagiang.gov.vn