LƯỢT TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 28


Hôm nayHôm nay : 3368

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 95931

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 4040758

LIÊN KẾT WEBSITE

ĐĂNG NHẬP

Cần hiểu và thực hiện đúng Luật An ninh mạng

Thứ tư - 02/01/2019 04:39
Ngày 12/6/2018, Quốc hội khóa XIV thông qua Luật An ninh mạng 2018 và từ ngày 1/1/2019 Luật có hiệu lực thi hành. Với 7 chương, 43 điều, Luật An ninh mạng quy định về hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Trong giai đoạn phát triển của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, trong đó không gian mạng trở thành một bộ phận cấu thành không thể thiếu và đóng vai trò quan trọng trong xây dựng xã hội thông tin và phát triển kinh tế tri thức. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu quan trọng thì còn có những nguy cơ thách thức, đan xen như: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo đã và đang tạo ra những thành tựu khoa học công nghệ vượt trội, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội nhưng cũng được dự báo sẽ gây nên “thảm họa” nếu không được kiểm soát chặt chẽ. Sự phát triển của mạng xã hội góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, song cũng tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động tác động, chuyển hóa chính trị, khủng bố ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ. Các thiết bị kết nối internet ngày càng phổ biến không chỉ mang lại những lợi ích to lớn cho cuộc sống con người, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh mà còn có thể bị sử dụng để tiến hành các cuộc tấn công mạng quy mô lớn và các cuộc tấn công mạng có chủ đích không chỉ có thể phá hoại các mục tiêu, công trình quan trọng về an ninh quốc gia mà còn chiếm đoạt thông tin, tài liệu bí mật, chiếm đoạt để sử dụng các hệ thống dữ liệu lớn, dữ liệu nhanh phục vụ các ý đồ chính trị và hoạt động phạm tội. Vì vậy việc Luật An ninh mạng ra đời đã đáp ứng được yêu cầu bức thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các hành vi sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Trong thời gian gần đây không ít các đối tượng xấu đã kích động, tuyên truyền để cử tri và người dân hiểu sai về tinh thần của Luật. Các đối tượng này đã tổ chức các chiến dịch viết bài với nội dung xuyên tạc, cho rằng Luật An ninh mạng xâm phạm quyền riêng tư và quyền bí mật thư tín, cản trở quyền tự do ngôn luận và tước đi quyền sử dụng Internet, làm gia tăng các thủ tục hành chính như giấy phép con… và sản xuất các video, clip và mời số đối tượng tự xưng là chuyên gia công nghệ, chuyên gia quản lý nhà nước bình luận, tự tổ chức quay các video, clip trích dẫn thông tin sai lệch, lồng ghép, xuyên tạc nội dung phát biểu của một số đại biểu Quốc hội, hô hào, kích động quần chúng nhân dân phản đối Luật An ninh mạng. Vì vậy mỗi người dân cần nâng cao tinh thần cảnh giác, cần phải hiểu đúng và thực hiện đúng về Luật, phản bác lại những luận điệu sai trái.

Có thể khẳng định Luật An ninh mạng đã được xây dựng theo đúng quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng về an ninh mạng, bảo đảm sự phù hợp với quy định của Hiến pháp 2013 về quyền con người, quyền cơ bản của công dân và bảo vệ Tổ quốc. Luật được chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng, với sự tham gia đóng góp ý kiến của các bộ, ngành chức năng, hơn 30 doanh nghiệp viễn thông, công nghệ thông tin lớn trong nước và ngoài nước, đồng thời lấy ý kiến rộng rãi của quần chúng nhân dân. Tại kỳ họp thứ 4, kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XIV, dự thảo Luật An ninh mạng đã được các đại biểu Quốc hội thảo luận sôi nổi, tham gia góp ý kiến, đa số ý kiến đồng tình, khẳng định sự cần thiết của xây dựng và ban hành Luật An ninh mạng. Ngày 12/6/2018, Quốc hội đã thông qua dự thảo Luật An ninh mạng với 86.86% đại biểu đồng ý.

Luật An ninh mạng ra đời không trùng lắp với luật Luật An toàn thông tin mạng, vì Luật này nhằm phòng ngừa, xử lý, đấu tranh với hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng, còn Luật An toàn thông tin mạng điều chỉnh hoạt động an toàn thông tin mạng, bao gồm các biện pháp nhằm bảo đảm tính nguyên vẹn, tính bảo mật và tính khả dụng của thông tin.

Luật An ninh mạng bảo vệ tất cả các khách thể, chủ thể hoạt động trên không gian mạng như chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, hoạt động hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trước các hành vi vi phạm pháp luật như các hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, doanh nghiệp và trẻ em. Đồng thời Luật An ninh mạng sẽ xử lý tất cả các đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng như các đối tượng có hoạt động chống phá Nhà nước CHXHCN Việt Nam; các đối tượng thực hiện hành vi tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, lừa đảo; số đối tượng sử dụng không gian mạng để môi giới mại dâm, dâm ô, buôn bán người; sử dụng không gian mạng để làm nhục, vu khống người khác, tung tin đồn thất thiệt; những người lợi dụng quy định của luật này để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

Trong luật, không có quy định nào cấm Facebook, Google hoặc các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam; không có quy định nào ngăn cản quyền tự do ngôn luận, quyền bày tỏ quan điểm của công dân; không có quy định nào cấm công dân sử dụng các dịch vụ mạng xã hội như Facebook, Google; không cấm công dân tham gia hoạt động trên không gian mạng hoặc truy cập, sử dụng thông tin trên không gian mạng; không có quy định nào cấm công dân khởi nghiệp, sáng tạo hay trao đổi, triển khai ý tưởng sáng tạo của mình trên không gian mạng. Còn các hành vi bị nghiêm cấm được quy định cụ thể tại Điều 8  và một số điều khác của luật, theo đó cấm các hành vi như: (1) Các hành vi chống nhà nước CHXHCN Việt Nam, bao gồm sử dụng không gian mạng tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ví dụ như thông tin kích động biểu tình trái pháp luật, kích động gây rối an ninh, trật tự…(2) Các hành vi xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc; (3) Các hành vi phát tán thông tin gây hại cho tổ chức, cá nhân, gồm: thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; (4) Các hành vi xâm phạm trật tự an toàn xã hội như sử dụng không gian mạng để hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng, xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội. (5) Các hành vi tấn công mạng, gián điệp mạng, khủng bố mạng và liên quan như sản xuất, đưa vào sử dụng công cụ, phương tiện, phần mềm hoặc có hành vi cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng viễn thông, mạng internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, phương tiện điện tử; phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng viễn thông, mạng internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, phương tiện điện tử. (6) Các hành vi lợi dụng quy định này của lực lượng chuyên trách để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật (giải quyết lo ngại về lạm quyền). Như vậy chỉ có các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng mới bị nghiêm cấm.

Để bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, Luật An ninh mạng đã dành 01 chương (Chương III Phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng) quy định đầy đủ các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, xử lý nhằm loại bỏ các nguy cơ đe dọa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật, Đây là hành lang pháp lý vững chắc để người dân có thể yên tâm buôn bán, kinh doanh hay hoạt động trên không gian mạng. Trong các quy định này, người dân được trao công cụ để bảo vệ quyền lợi của mình như tại Điều 16 quy định về phòng ngừa, xử lý thông tin vi phạm pháp luật trên không gian mạng, quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phát hiện, ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin vi phạm pháp luật, cũng như yêu cầu lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng tiến hành các biện pháp bảo vệ an ninh mạng để loại bỏ các thông tin vi phạm pháp luật. Điều này có nghĩa là người dân đã có công cụ rõ ràng hơn để bảo vệ mình khi bị các thông tin xấu xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp. Điều 17 quy định cụ thể về công tác phòng, chống gián điệp mạng; bảo vệ thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và đời sống riêng tư trên không gian mạng. Điều 18 giúp bảo vệ người dân khỏi các hoạt động tội phạm mạng, như chiếm đoạt tài sản, trộm cắp thông tin thẻ tín dụng, tài khoản ngân hàng… Điều 19 trao công cụ để bảo vệ người dân khỏi hoạt động tấn công mạng, như tán phát mã độc, tấn công từ chối dịch vụ… Tại Điều 26, luật yêu cầu các doanh nghiệp trong và ngoài nước khi cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có trách nhiệm loại bỏ những nguồn phát tán thông tin xấu thông qua việc không hoặc ngừng cung cấp dịch vụ cho những đối tượng này. Đây là công cụ rất hữu hiệu để bảo vệ người dân khỏi các thông tin xấu độc, và cũng đồng thời giúp bảo vệ thông tin cá nhân, bí mật cá nhân của người dân, tránh bị thu thập và lạm dụng (trường hợp dữ liệu cá nhân người dùng Facebook bị làm dụng vào hoạt động chính trị). Với việc yêu cầu một số doanh nghiệp nước ngoài đặt chi nhánh, văn phòng đại diện, tức có pháp nhân tại Việt Nam sẽ giúp người dân có quyền được quản lý, sử dụng và khiếu nại về dữ liệu của mình. Tại Điều 29 Luật An ninh mạng cũng quy định các nội dung bảo vệ trẻ em trên không gian mạng, trong đó yêu cầu chủ quản hệ thống thông tin, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng, cơ quan, tổ chức, cha, mẹ, giáo viên, người chăm sóc và các cá nhân khác có trách nhiệm bảo vệ trẻ em khi trẻ em tham gia không gian mạng; yêu cầu lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền của trẻ em trên không gian mạng.

Có một số ý kiến hiểu không đúng và lo lắng, cho rằng Luật An ninh mạng kiểm soát toàn bộ thông tin cá nhân, phải cung cấp toàn bộ thông tin người dùng như thông tin cá nhân, thông tin riêng tư cho cơ quan chức năng. Đây là thông tin không chính xác, Luật An ninh mạng đã quy định rõ ràng, chỉ trong trường hợp phục vụ điều tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng, lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng mới được quyền yêu cầu cung cấp thông tin người dùng. Trên thực tế, để lực lượng bảo vệ pháp luật điều tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả, thì việc cung cấp thông tin người dùng là một trong những biện pháp quan trọng. Tuy nhiên đây không phải là biện pháp thường xuyên và đương nhiên được dùng, mà khi lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng chỉ được phép tiếp cận thông tin cá nhân của người sử dụng có hoạt động vi phạm pháp luật, với trình tự, thủ tục nghiêm ngặt (bằng văn bản), được các cấp có thẩm quyền phê duyệt, vấn đề này được quy định rõ tại Điểm a, khoản 2 Điều 26 dự thảo Luật An ninh mạng quy định: “Doanh nghiệp trong và ngoài nước khi cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có trách nhiệm cung cấp thông tin người dùng cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an khi có yêu cầu bằng văn bản để phục vụ điều tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng”.

Luật An ninh mạng gồm 7 chương, 43 điều, quy định những nội dung cơ bản về bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng; triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng và quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Với những quy định trong Luật như vậy sẽ là hành lang pháp lý vững chắc để bảo vệ các hoạt động trên không gian mạng, góp phần giữ vững an ninh quốc qia, trật tự an toàn xã hội. Mong rằng nội dung của Luật sẽ sớm được tuyên truyền, được người dân tìm hiểu và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật./.
Minh Quang

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

VIDEO HOẠT ĐỘNG

KIẾN NGHỊ CỬ TRI














 






ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG
Địa chỉ: Số 01 Đường Đội Cấn - Phường Nguyễn Trãi - Thành phố Hà Giang - Tỉnh Hà Giang
Số điện thoại: 02193.867.356 - Fax: 02193.860.778
Email: bbt.dbnd@hagiang.gov.vn