LƯỢT TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 18

Thành viên online : 1

Khách viếng thăm : 17


Hôm nayHôm nay : 2505

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 66722

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3652773

LIÊN KẾT WEBSITE

ĐĂNG NHẬP

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trả lời chất vấn của Đại biểu Quốc hội Vương Ngọc Hà, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Giang tạiKỳ họp thứ 5 – Quốc hội khóa XIV

Thứ hai - 16/07/2018 05:44
Tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XIV, Đại biểu Quốc hội Vương Ngọc Hà, Phó Trưởng Đoàn Chuyên trách Đoàn ĐBQH khóa XIV tỉnh Hà Giang đã có phiếu chất vấn Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội với nội dung như sau:

“1. Như Bộ trưởng nêu, đào tạo nghề phải được coi là giải pháp đặc biệt trong  vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Bộ trưởng đã đưa ra các giải pháp như: Quy hoạch mạng lưới dạy nghề, chế độ tự chủcủa các đơn vị dạy nghề, việc dạy nghề gắn với kết nối các doanh nghiệp…
Theo chúng tôi thấy còn có vấn đề tồn tại đó là hệ thống chương trình, tài liệu còn chưa phù hợp nên cần phải đổi mới hệ thống tài liệu ngắn gọn, trực quan, nhất là dạy nghề đối với khu vực nông thôn. Bộ trưởng có đồng tình với ý kiến này không và có giải pháp gì đối với nội dung này?
2. Bộ trưởng cho biết về cơ chế nhập trang thiết bị dạy nghề đối với các cơ sở đăng ký tham gia dạy nghề với hình thức xã hội hóa, nhất là đối với các thiết bị đặc thù?
3. Nghị quyết số 52/NQ-CP ngày 15/6/2016 về đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2030. Trong đó có giao một số nhiệm vụ cho Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tại Chương IV điểm đ mục 1. Tuy nhiên theo cung cấp thông tin của Ủy ban Dân tộc cho đại biểu tại công văn số 394/UBDT-CSDL ngày 20/4/2018 cho biết Bộ chưa có kế hoạch triển khai thực hiện nghị quyết này.
Vậy xin Bộ trưởng cho biết quan điểm về vấn đề này và xin cung cấp thông tin để đại biểu nắm được nội dung đã triển khai của Bộ?”
Ngày 11/7/2018, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Giang nhận được Văn bản số 2512/LĐTBXH-VP, ngày 26/6/2018 “V/v trả lời chất vấn của Đại biểu Quốc hội Vương Ngọc Hà” của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội với nội dung trả lời như sau:
1. Về hệ thống chương trình, tài liệu đào tạo.
- Hiện nay việc xây dựng chương trình, giáo trình nói chung và đào tạo nghề cho cho lao động nông thôn nói riêng được giao cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tổ chức xây dựng và ban hành theo quy định.
- Trong quá trình triển khai đào tạo nghề cho lao động nông thôn, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tổ chức sở kết hằng năm và tổng kết theo giai đoạn. Từ đó, đã kịp thời phát hiện một số bất cập trong việc triển khai đào tạo nghề cho lao động nông thôn, trong đó có bất cập về một số chương trình, giáo trình đào tạo, nhất là những ngành nghề thuộc lĩnh vực nông nghiệp.
Bộ đã nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định, trình thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 971/QĐ-TTg ngày 1/7/2015 về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 phê duyệt Đề án “Đào tạo  nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”, trong đó đối với việc xây dựng chương trình, tài liệu đào tạo nghề cho lao động nông thôn được quy định cụ thể:
“- Đổi mới và phát triển chương trình, giáo trình, học liệu đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo yêu cầu của doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động và nhu cầu của người học, thường xuyên cập nhật kỹ thuật, công nghệ mới;
-Thu hút các nhà khoa học, nghệ nhân, cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, người lao động có tay nghề cao tại các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh, các trung tâm khuyến nông, lâm, ngư, nông dân sản xuất giỏi tham gia xây dựng chương trình, giáo trình, học liệu đào tạo nghề cho lao động nông thôn”.
- Hàng năm, Bộ đều có văn bản hướng dẫn chỉ đạo các địa phương rà soát nghề đào tạo, chương trình giáo trình, tài liệu đào tạo để sửa đổi, bổ sung kịp thời, cụ thể: Yêu cầu các địa phương hàng năm thực hiện rà soát danh mục nghề đào tạo, chương trình, giáo trình, tài liệu đào tạo đảm bảo nghề nông nghiệp phục vụ hiệu quả cho nhiệm vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp, sản xuất công nghệ cao và an sinh xã hội nông thôn ở địa phương. Đẩy mạnh đào tạo các nghề phi nông nghiệp để chuyển đổi nghề nghiệp ở nông thôn, đào tạo để làm việc tại các khu công nghiệp, dịch vụ và tạo việc làm tại chỗ tại vùng nông thôn.
2. Về cơ chế để nhập trang thiết bị dạy nghề đối với các cơ sở thực hiện xã hội hóa.
Quy định tại khoản 2, Điều 7, Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường như sau: “Cơ sở thực hiện xã hội hóa được ưu đãi về thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu và các quy định hiện hành”.
Tại điều 21, Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu quy định “Miễn thuế hàng hóa nhập khẩu phục vụ trực tiếp cho giáo dục”, cụ thể thư sau:
- Hàng hóa nhập khẩu chuyên dùng trong nước chưa sản xuất được phục vụ trực tiếp cho giáo dục được miễn thuế nhập khẩu;
- Căn cứ xác định hàng hóa trong nước chưa sản xuất được thực hiện theo quy định của Bộ Kế hoạch và đầu tư;
- Căn cứ xác định hàng hóa chuyên dùng nhập khẩu phục vụ trực tiếp cho giáo dục thực hiện theo quy định của Bộ Giáo dục và đào tạo;
- Hồ sơ, thủ tục miễn thuế thực hiện theo quy định tại điều 31 Nghị định này.
Như vậy, đối với các cơ sở xã hội hóa trong giáo dục nghề nghiệp khi nhập khẩu thiết bị đào tạo không có cơ chế riêng, việc nhập khẩu thiết bị tuân theo các quy định hiện hành.

3. Về thực hiện Nghị quyết số 52/NQ-CP ngày 15/6/2016.
Tại điểm đ, Mục 1 Phần IV của Nghị quyết số 52/NQ-CP ngày 15/6/2016 của Chính phủ giao Bộ Lao động – Thương Binh và Xã hội thực hiện 3 nội dung, cụ thể:
“- Triển khai thực hiện có hiệu quả và đạt được các mục tiêu của chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, Chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn (theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009, Quyết định số 971/QĐ-TTg ngày 1/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ), Chính sách hỗ trợ đào tạo sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng (theo Quyết định số 46/2015/QĐ-TTg ngày 28/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ) và Chính sách nội trú đối với học sinh, sinh viên học cao đẳng, trung cấp (theo Quyết định số 53/2015/QĐ-TTg ngày 20/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ) trên địa bàn vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn;
- Chỉ đạo, tổ chức thực hiện các chính sách, chương trình, dự án thuộc lĩnh vực do Bộ quản lý theo hướng tập trung ưu tiên phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số nhằm đạt được các mục tiêu của Nghị quyết;
- Chủ trì phối hợp với Ủy ban dân tộc và Bộ, ngành liên quan sửa đổi, bổ sung, xây dựng, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành một số cơ chế, chính sách đặc thù trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp và giải quyết việc làm được quy định tại Mục 3, Phần III của Nghị quyết; hướng dẫn thực hiện các nhiệm vụ của nghị quyết thuộc lĩnh vực của Bộ được giao quản lý.”
Đây là các nhiệm vụ thường xuyên của Bộ, Bộ đã xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện các chương trình, đề án, thuộc trách nhiệm của Bộ hàng năm và giai đoạn để hướng dẫn các địa phương thực hiện, trong đó các giải pháp thực hiện đều cụ thể hóa nhiệm vụ thuộc trách nhiệm được giao trong phát triển nhân lực vùng dân tộc thiểu số như:
- Hàng năm khi xây dựng kế hoạch đào tạo nghề cho lao động nông thôn gửi Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đều ưu tiên đề xuất hỗ trợ cho các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống theo đúng quy định tại Khoản 9 Điều 1 của Quyết định số 971/QĐ-TTg ngày 1/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ “Việc phân bổ kinh phí cho các địa phương ưu tiên các địa phương có dân số là người dân tộc thiểu số từ 100 ngàn người trở lên hoặc có dân số là người dân tộc thiểu số dưới 100 ngàn người nhưng tỷ lệ dân số là người dân tộc thiểu số từ 5% trở lên”. Tại Điều 2 Quyết định số 46/2015/QĐ-TTg ngày 28/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ cũng quy định: “Người học là phụ nữ, lao động nông thôn, người khuyết tật tham gia học các chương trình đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng, trong đó ưu tiên người khuyết tật và các đối tượng là người thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người thuộc hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp, đất kinh doanh, lao động nữ bị mất việc làm, ngư dân; các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.”
-Phối hợp với Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Tài chính ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện chính sách nội trú quy định tại Quyết định số 53/2015/QĐ-TTg ngày 20/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách nội trú đối với học sinh, sinh viên học cao đẳng, trung cấp, tạo điều kiện cho địa phương, cơ sở và người học thực hiện.
- Hàng năm, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tổ chức rà soát việc thực hiện các chính sách tại các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ để kịp thời phát hiện những bất cập, khó khăn, vướng mắc của địa phương để kịp thời tháo gỡ, điều chỉnh.
Kết quả:
Thực hiện các chính sách hỗ trợ lao động là người dân tộc thiểu số học nghề, theo báo cáo của các địa phương, số dân tộc là người dân tộc thiểu số được hỗ trợ đào tạo qua các chương trình là khoảng trên 1,1 triệu người chiếm trên 14% trong tổng số gần 8 triệu người dân tộc thiểu số trong độ tuổi lao động. Trong đó, tính riêng Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn, 7 năm (2010-2016) đã có trên 690 ngàn người dân tộc thiểu số được hỗ trợ học nghề, chiếm 21,8% tổng số người được hỗ trợ học nghề, bình quân mỗi năm hỗ trợ học nghề cho 98.631 người, năm 2017, có 122 ngàn người dân tộc thiểu số được hỗ trợ đào tạo. Có trên 70% số người dân tộc thiểu số học xong có việc làm theo các hình thức được doanh nghiệp tuyển dụng, hoặc tiếp tục làm nghề cũ nhưng có năng suất, hiệu quả và thu nhập cao hơn. Tổ chức đặt hàng trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề với 26 cơ sở đào tạo để đào tạo cho 8.555 lao động là người dân tộc thiểu số, thuộc hộ nghèo, hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp có khó khăn về kinh tế.
Trong thời gian tới, Bộ sẽ tiếp tục chỉ đạo, triển khai có kết quả, hiệu quả các chương trình, đề án được Chính phủ giao nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ được phân công tại Nghị quyết số 52/NQ-CP của Chính phủ./.
                                                                                        Thu Hiền

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

VIDEO HOẠT ĐỘNG

KIẾN NGHỊ CỬ TRI














 


  



ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG
Địa chỉ: Số 01 Đường Đội Cấn - Phường Nguyễn Trãi - Thành phố Hà Giang - Tỉnh Hà Giang
Số điện thoại: 02193.867.356 - Fax: 02193.860.778
Email: bbt.dbnd@hagiang.gov.vn