LƯỢT TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 28


Hôm nayHôm nay : 5676

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 122425

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 4858119

LIÊN KẾT WEBSITE

ĐĂNG NHẬP

Bộ Khoa học và Công nghệ trả lời chất vấn của Đại biểu Quốc hội Vương Ngọc Hà – Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Giang tại Kỳ họp thứ 6 – Quốc hội khóa XIV

Thứ tư - 19/12/2018 14:03
Tại Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV, Đại biểu Quốc hội Vương Ngọc Hà - Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH khóa XIV tỉnh Hà Giang đã chất vấn Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệvề “Vị trí của Việt Nam trong thứ tự về phát triển khoa học, công nghệ trên thế giới và những trọng tâm của ngành để thực hiện được vai trò là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế”.
Đại biểu Quốc hội Vương Ngọc Hà – Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Giang phát biểu tại Kỳ họp thứ 6 – Quốc hội khóa XIV

Đại biểu Quốc hội Vương Ngọc Hà – Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Giang phát biểu tại Kỳ họp thứ 6 – Quốc hội khóa XIV

Ngày 16/12/2018, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Giang nhận được Văn bản số 3720/BKHCN-VP, ngày 21/11/2018 “V/v trả lời chất vấn của Đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Giang” của Bộ Khoa học và Công nghệ với nội dung trả lời như sau:

Về vị trí của Việt Nam trong thứ tự về phát triển khoa học, công nghệ trên thế giới: Theo Scimago (cơ sở dữ liệu Scopus) đánh giá về thứ tự xếp hạng công bố quốc tế, năm 1996 Việt Nam đứng thứ 75, đến năm 2017 đứng thứ 56 trên hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Cũng theo Scimago, trong giai đoạn 2012 – 2017, Việt Nam có gần 28.000 công trình công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế, trung bình mỗi năm tăng 10%. Với số lượng công bố quốc tế như vậy, Việt Nam được đánh giá vào tốp đầu về công bố quốc tế trong khối các nước ASEAN.

Năng lực, trình độ nghiên cứu khoa học cơ bản của Việt Nam cũng đã được quốc tế công nhận. Năm 2017, lần đầu tiên Việt Nam được Tổ chức giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) công nhận và bảo trợ 02 Trung tâm khoa học dạng 2 về toán và vật lý, trở thành một trong bốn quốc gia ASEAN có Trung tâm khoa học dạng 2 trong lĩnh vực khoa học tự nhiên thuộc hệ thống công nhận của UNESCO.Trong ứng dụng khoa học và công nghệ (KH&CN) phục vụ phát triển các ngành kinh tế, các thành tựu các nhà khoa học Việt Nam về nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghệ đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng của sản phẩm, hàng hóa và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội. Một số thành tựu nổi bật trong ứng dụng KH&CN thuộc các ngành, lĩnh vực như: Lĩnh vực nông nghiệp: Các nhà khoa học Việt Nam đã tạo được nhiều giống cây trồng mới, cải tiến quy trình canh tác, nuôi trồng để cho năng suất, chất lượng cao, theo đó, cây lúa cho năng suất cao nhất khu vực ASEAN (gấp 2,5 lần so Thái Lan), cây cà phê có năng suất thứ 2 thế giới (sau Brasil), cây hồ tiêu đứng đầu thế giới, cây cao su đứng thứ 2 thế giới (sau Ấn Độ).Trong lĩnh vực công nghiệp: Các nhà nghiên cứu và tổ chức KH&CN Việt Nam đã bước đầu làm chủ các công nghệ tiên tiến trong thiết kế, giám sát, thi công, xây lắp các công trình giao thông, xây dựng quy mô lớn (nhà cao tầng, công trình ngầm, cầu dây văng, đường cao tốc, nhà ga, bến cảng) có quy mô và trình độ công nghệ ngang tầm với các nước trong khu vực. Trong những năm qua, hầu hết các công nghệ xây cầu bê tông cốt thép đã được chuyển giao vào Việt Nam. Cho đến nay các nhà khoa học trong nước đã hoàn toàn làm chủ công nghệ từ thiết kế đến thi công nhiều loại cầu phức tạp; công nghệ xây dựng hầm giao thông, công nghệ xây dựng đường giao thông trên nền đất yếu; công nghệ cọc đất gia cố xi măng trong xây dựng cảng biển (Cái Lân, Thị Vải, Tiên Sa), sân bay (Sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Cần Thơ), cầu (Bạch Đằng, Nhật Lệ, Thuận Phước).Trong lĩnh vực y tế - chăm sóc sức khỏe nhân dân, nghiên cứu sản xuất vắc xin: Việt Nam hiện đã làm chủ công nghệ và sản xuất được nhiều loại vắc xin để phòng bệnh chủ động, góp phần thanh toán và đẩy lùi nhiều bệnh truyền nhiễm: đã tự chủ được 22 loại vắc xin, 07 loại vắc xin đang thử nghiệm lâm sàng và 06 loại vắc xin đang nghiên cứu phát triển. Về cơ bản, đã làm chủ được quy trình công nghệ sản xuất 10 loại vắc xin phục vụ Chương trình tiêm chủng mở rộng như: Lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, sởi, bại liệt, viêm gan B. Năm 2016, Việt Nam trở thành nước thứ 4 tại Châu Á sản xuất được vắc xin phối hợp Sởi – Rubella và một trong 43 nước sản xuất được vắc xin. Vắc xin sởi – rubella là một trong những sản phẩm của Chương trình sản phẩm quốc gia “vắc xin phòng bệnh cho người”, được cấp phép và sử dụng trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng từ năm 2017 với 2,5 triệu liều thay thế vắc xin nhập khẩu của Ấn Độ. Về ghép tạng: Đã làm chủ các quy trình ghép tạng như: Tim, gan, thận, phổi, tụy – thận (đa tạng), trong đó nhiều quy trình đã triển khai rộng rãi, có hiệu quả, mang lại cuộc sống cho hàng ngàn bệnh nhân. Năm 2017, Việt Nam thực hiện được 664 ca ghép tạng, trong đó 631 ca ghép thận; 29 ca ghép gan; 3 ca ghép tim và 1 ca ghép phổi. Đến nay, Việt Nam đã làm chủ ghép được các kỹ thuật ghép tạng quan trọng nhất và thường gặp trong lâm sàng như thận, tim, gan, tụy, phổi với hơn 1.500 ca với tỷ lệ ghép thành công tương đương nhiều nước tiên tiến trên thế giới.

Bên cạnh các thành quả đóng góp cụ thể của KH&CN đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội như nêu trên, việc xem xét, nhận dạng vai trò và đóng góp của KH&CN với phát triển kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia, của doanh nghiệp dựa trên các khung khổ, thông lệ của các tổ chức quốc tế như WIPO (Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới), WEF (Diễn đàn kinh tế thế giới) đã trở nên rất phổ biến, thông dụng ở nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Theo xu thế này, thời gian qua Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã thể hiện sự quyết liệt trong chỉ đạo điều hành nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia với sự gắn kết của các yếu tố,tác nhân liên quan đến khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Liên tiếp trong các năm 2016, 2017 Chính phủ đã ban hành và tăng cường chỉ đạo thực hiện các Nghị quyết số 19/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, với những mục tiêu cụ thể gắn với các chỉ số đo lường được theo các phương pháp chuẩn mực được thế giới công nhận; đã ban hành và tập trung chỉ đạo thực hiện các Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước hàng năm, Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020.

Những nỗ lực trong chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính Phủ nhằm cải thiện vị trí xếp hạng của Việt Nam theo các đánh giá của WEF và WIPO đã đồng thời mang đến những bước cải thiện rất mạnh mẽ trên nhiều phương diện của đất nước. Việt Nam đã có những cải thiện đáng kể về Thể chế trong một vài năm gần đây (thứ hạng tăng từ 101 năm 2015 lên 93 năm 2016 và 87 năm 2017). Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, theo đánh giá của WIPO về đổi mới sáng tạo (ĐMST) năm 2018, Việt Nam xếp hạng 45/127 quốc gia, nền kinh tế. Trong đó, về nghiên cứu và phát triển, Việt Nam xếp hạng 81/127 (đầu vào của ĐMST), về đầu ra Tri thức và Công nghệ, Việt Nam xếp hạng 35/127 (đầu ra ĐMST), về Tài sản vô hình, Việt Nam xếp hạng 49/127 (đầu ra ĐMST).Việt Nam được đánh giá là có hiệu suất cao về đầu vào – đầu ra ĐMST, tức là nguồn lực đầu vào ĐMST còn hạn chế nhưng đầu ra ĐMST vượt trội so với đầu vào.

Theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) về chỉ số Năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 năm 2018, Việt Nam xếp hạng 77/140 quốc gia, nền kinh tế. Trong đó, một số chỉ số trực tiếp liên quan tới KH&CN có kết quả: Chỉ số về bài báo KH&CN xếp hạng 59/140; đơn sáng chế xếp hạng 89/140; chi chonghiên cứu và phát triển xếp hạng 76/140; chất lượng các viện nghiên cứu xếp hạng 60/140. Các chỉ số này cùng với các chỉ số khác như: Lực lượng lao động; sự phát triển các cụm, khu công nghiệp; quan hệ hợp tác đa phương,... (có thứ hạng thấp hơn) thuộc nhóm trụ cột về Năng lực ĐMST, xếp hạng 82/140.

Việc sử dụng các khung khổ đánh giá quốc tế về Năng lực cạnh tranh và ĐMST không chỉ giúp Việt Nam có thể xem xét, đo lường khả năng cạnh tranh, trạng thái phát triển kinh tế theo thông lệ quốc tế mà còn đồng thời cho thấy vai trò của KH, CN và ĐMST có quan hệ mật thiết với các ngành, lĩnh vực khác. Để thúc đẩy năng lực ĐMST, hệ thống ĐMST cần có thể chế và các đầu vào hạ tầng, nguồn nhân lực, sự phát triển của thị trường, của doanh nghiệp.Ngược lại, để nâng cao năng lực cạnh tranh cũng cần sự phát triển của KH, CN, và ĐMST.

Về những vấn đề trọng tâm của ngành để thực hiện được vai trò là động lực tăng trưởng kinh tế, Bộ xác định những nhiệm vụ cụ thể là: Tiếp tục đẩy mạnh cải thiện thể chế, bao gồm cải thiện các quy định, chính sách về KH, CN và ĐMST, đồng thời nâng cao hiệu quả thực thi các quy định pháp luật.Trình Chính phủ dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về việc nâng cao năng lực tiếp cận Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4; xây dựng và triển khai các nhiệm vụ KH&CN theo hướng phục vụ thiết thực các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là đáp ứng yêu cầu chủ động tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án nhập khẩu công nghệ giai đoạn đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; thúc đẩy đổi mới công nghệ theo hướng ứng dụng công nghệ mới, công nghệ hiện đại. Xây dựng và triển khai các chương trình cụ thể để thu hút và khai thác có hiệu quả các nhà khoa học, chuyên gia giỏi là người Việt Nam ở nước ngoài về nước làm việc. Xây dựng các chính sách cử cán bộ khoa học Việt Nam đi làm việc, học tập tại các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp ở nước ngoài; chính sách khuyến khích chuyển dịch lao động trình độ cao từ các viện nghiên cứu, trường đại học sang khu vực doanh nghiệp.Tiếp tục đổi mới hệ thống sáng tạo quốc gia, lấy doanh nghiệp làm trung tâm, trường đại học là chủ thể nghiên cứu mạnh./.
                                                                                       Thu Hiền

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

VIDEO HOẠT ĐỘNG

KIẾN NGHỊ CỬ TRI















 




ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG
Địa chỉ: Số 01 Đường Đội Cấn - Phường Nguyễn Trãi - Thành phố Hà Giang - Tỉnh Hà Giang
Số điện thoại: 02193.867.356 - Fax: 02193.860.778
Email: bbt.dbnd@hagiang.gov.vn