LƯỢT TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 18


Hôm nayHôm nay : 2152

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 31681

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2538706

LIÊN KẾT WEBSITE

ĐĂNG NHẬP

Lên phía trên
Trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri sau kỳ họp thứ 4 - Đoàn ĐBQH khóa XIII tỉnh Hà Giang (cử tri thị trấn Mèo Vạc, huyện Mèo Vạc và cử tri xã Yên Định, huyện Bắc Mê).
Câu hỏi:
Hiện nay đời sống sinh hoạt và sản xuất của nhân dân thôn Tìa Chí Rùa, thị trấn Mèo Vạc, huyện Mèo Vạc và thôn Bản Bó, xã Yên Định, huyện Bắc Mê còn rất nhiều khó khăn. Đề nghị Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét đề nghị Chính phủ đưa hai thôn trên vào diện thôn vùng III theo Chương trình 135/CP
Trả lời:
Căn cứ Quyết định số 30/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2012-2015, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số: 159/KH-UBND ngày 24/12/2012 của UBND tỉnh Hà Giang về việc triển khai thực hiện Quyết định số 30/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2012 – 2015.
Hiện nay các huyện, thành phố đang triển khai xét phân loại theo kế hoạch số 159/KH-UBND ngày 24/12/2012 của UBND tỉnh, thời gian hoàn thành trước ngày 30/3/2013 để trình Chính phủ phê duyệt. Vậy nếu thôn Tìa Chí Rùa, thị trấn Mèo Vạc và thôn Bản Bó, xã Yên Định, huyện Bắc Mê đảm bảo các tiêu chí trên sẽ được công nhận thôn đặc biệt khó khăn (thôn vùng III) theo quy định của Chính phủ.
Lên phía trên
Trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri trước kỳ họp thứ 4 - Đoàn ĐBQH khóa XIII tỉnh Hà Giang (cử tri các huyện Quang Bình, Xín Mần, Hoàng Su Phì).
Câu hỏi:
Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới ở các xã vùng núi đất, ít sông, suối, việc nhân dân đóng góp vật liệu (cát, đá, sỏi) cho thi công các công trình rất khó khăn; Đề nghị Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét có cơ chế hỗ trợ thêm về nguyên vật liệu phù hợp với từng địa bàn cơ sở
Trả lời:
Về chính sách hỗ trợ đối với các công trình thuộc chương trình xây dựng nông thôn mới. Căn cứ vào những khó khăn thực tế tại địa phương, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 2632/QĐ-UBND ngày 29/11/2011 của Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang về việc Ban hành định mức hỗ trợ, thanh quyết toán các công trình nhà nước và nhân dân cùng làm thuộc chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh. Đối với công trình làm đường trục thôn, liên thôn, xóm thì ngoài việc được hỗ trợ 100% lượng xi măng theo quy định, còn được hỗ trợ kinh phí bằng tiền là 82 triệu đồng/km đối với loại đường có chiều rộng 2,5m. Mức hỗ trợ trên được quy định chung cho các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh.
Căn cứ vào Quyết định số 695/QĐ-TTg ngày 08/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi nguyên tắc, cơ chế hỗ trợ vốn thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 thì các xã thuộc các huyện nghèo thuộc chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bề vững theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ sẽ được hỗ trợ tối đa 100% từ ngân sách nhà nước cho: Xây dựng đường giao thông đến trung tâm xã; đường giao thông thôn, xóm; giao thông nội đồng và kênh mương nội đồng; xây dựng trường học đạt chuẩn; xây dựng trạm y tế xã; xây dựng nhà văn hóa xã, thôn, bản; xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt, thoát nước thải khu dân cư; phát triển sản xuất và dịch vụ; hạ tầng các khu sản xuất tập trung, tiểu thủ công nghiệp, thủy sản. Đối với các xã còn lại sẽ được hỗ trợ một phần từ ngân sách nhà nước cho việc xây dựng các hạng mục như trên.
Đối với tỉnh Hà Giang, UBND tỉnh đã chỉ đạo Ban xây dựng nông thôn mới và các ngành liên quan căn cứ vào Quyết định số 695/QĐ-TTg ngày 08/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ để nghiên cứu và có văn bản tham mưu cho UBND tỉnh về việc Ban hành định mức hỗ trợ đối với công trình nhà nước và nhân dân cùng làm thuộc chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh để trình HĐND tỉnh tại kỳ họp sắp tới. Dự kiến mức hỗ trợ trên sẽ áp dụng cho các công trình xây dựng thuộc chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Hà Giang giai đoạn 2013-2015. Như vậy, sau khi định mức hỗ trợ mới đối với công trình nhà nước và nhân dân cùng làm thuộc chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh được HĐND tỉnh phê chuẩn và ban hành thì sẽ phần nào đáp ứng được khó khăn của nhân dân, theo ý kiến, kiến nghị của cử tri các huyện.
Lên phía trên
Trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri trước kỳ họp thứ 4 - Đoàn ĐBQH khóa XIII tỉnh Hà Giang (cử tri Liên minh HTX Hà Giang).
Câu hỏi:
Hiện nay ngân sách tỉnh giao cho Hội đặc thù rất thấp so với các cơ quan chuyên môn khác của tỉnh. Đề nghị Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét tăng mức phân bổ ngân sách cho các Hội đặc thù để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Pháp luật
Trả lời:
Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội đặc thù đã nêu rõ trong các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của hội: Tự bảo đảm kinh phí hoạt động.
 Riêng chính sách của nhà nước đối với các hội có tính chất đặc thù tại Điều 35 quy định như sau:
- Các hội có tính chất đặc thù được cấp kinh phí hoạt động theo số biên chế được giao; bảo đảm kinh phí để thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao và hỗ trợ cơ sở vật chất và phương tiện hoạt động; được khuyến khích, tạo điều kiện tham gia thực hiện một số hoạt động quản lý nhà nước, các dịch vụ công; thực hiện tư vấn, phản biện và giám định xã hội; thực hiện các chương trình, đề tài, dự án.
- Việc cấp kinh phí hoạt động theo số biên chế được giao; bảo đảm kinh phí để thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao và hỗ trợ cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động; tư vấn, phản biện và giám định xã hội do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
- Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm quy định, hướng dẫn, tạo điều kiện về cấp kinh phí hoạt động theo số biên chế được giao, hỗ trợ kinh phí hoạt động gắn với nhiệm vụ của Nhà nước và hỗ trợ cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động; ban hành cơ chế chính sách để hội có tính chất đặc thù tham gia thực hiện một số hoạt động quản lý nhà nước, các dịch vụ công; tư vấn, phản biện và giám định xã hội; thực hiện các chương trình, đề tài, dự án trong phạm vi chức năng quản lý nhà nước theo thẩm quyền.
Như vậy, ngân sách địa phương chỉ đảm bảo định mức kinh phí theo biên chế tỉnh giao và những nhiệm vụ do UBND các cấp giao. Đối với hoạt động của Hội gắn với nhiệm vụ được Nhà nước giao, các hội phải lập kế hoạch từng nhiệm vụ cụ thể và được UBND cùng cấp phê duyệt, làm cơ sở cho việc bố trí kinh phí thực hiện những nhiệm vụ đó. Các hoạt động khác của hội, do hội tự đảm bảo kinh phí hoạt động theo điều lệ.
Lên phía trên
Trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri trước kỳ họp thứ 4 - Đoàn ĐBQH khóa XIII tỉnh Hà Giang (cử tri xã Na Khê – Yên Minh).
Câu hỏi:
Thực hiện Nghị định 116/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trong đó có quy định trợ cấp lần đầu cho cán bộ Cán bộ, công chức, viên chức đến công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ 3 năm trở lên đối với nữ và từ 5 năm trở lên đối với nam được hưởng trợ cấp lần đầu bằng 10 tháng lương tối thiểu chung. Nhưng đến nay việc triển khai thực hiện vẫn còn nhiều bất cập, Đề nghị Uỷ ban tỉnh chỉ đạo các sở, ngành chức năng tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và đôn đốc Uỷ ban nhân dân các huyện đẩy nhanh tiến độ để cán bộ, công chức, viên chức giảm bớt khó khăn
Trả lời:
Chế độ trợ cấp lần đầu theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 116/2010/NĐ-CP, áp dụng đối với các đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức, người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động đến công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ 3 năm trở lên đối với nữ và từ 5 năm trở lên đối với nam, mức trợ cấp được hưởng bằng 10 tháng lương tối thiểu chung.
 Kết quả thực hiện chính sách như sau:
UBND tỉnh đã cấp kinh phí cho UBND các Huyện (trừ thành phố Hà Giang) để chi trả các chính sách theo quy định của Nghị định 116/2010/NĐ-CP (bao gồm cả chế độ trợ cấp lần đầu) 02 lần với tổng số tiền là 252.653 triệu đồng, trong đó: năm 2011 là 117.513 triệu đồng, năm 2012 là 135.140 triệu đồng. Đến nay đã có 07 huyện thực hiện chi trả trợ cấp lần đầu cho cán bộ công chức viên chức gồm: Quản Bạ , Hoàng Su Phì, Xín Mần, Quang Bình, Vị Xuyên, Bắc Quang. Tổng số đối tượng được hưởng là 4.853 người với tổng số tiền là 10.727, 361 triệu đồng. Hiện tại, còn 03 huyện chưa thực hiện chi trả là: Bắc Mê, Đồng Văn, Yên Minh (Huyện Bắc Mê đang rà soát lại đối tượng; 02 huyện Đồng Văn và Yên Minh chưa báo cáo lý do).
Việc cử tri Huyện Yên Minh có kiến nghị về việc chưa nhận được trợ cấp lần đầu theo quy định tại Nghị định 116/2010/NĐ-CP là đúng, nguyên nhân chậm thực hiện chính sách là do UBND Huyện Yên Minh chưa thực hiện chi trả chính sách theo quy định.
UBND tỉnh yêu cầu UBND các huyện Bắc Mê, Đồng Văn, Yên Minh nghiêm túc thực hiện chi trả chính sách cho cán bộ, công chức, viên chức  theo quy định
.
Lên phía trên
Trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri trước kỳ họp thứ 3 - Đoàn ĐBQH khoá XIII tỉnh Hà Giang (Cử tri các thôn: Làng Trần, Làng Mới, Nậm Má, Bản Bang xã Đạo Đức, huyện Vị Xuyên)
Câu hỏi:
Đề nghị tỉnh khẩn trương chỉ đạo các ngành chức năng giao đất tái định cư cho người dân có đất bị thu hồi xây dựng khu công nghiệp Bình Vàng; tiếp tục thanh toán tiền hỗ trợ đời sống cho nhân dân khi bị thu hồi đất đến nơi ở mới đủ 36 tháng (hiện nay mới chỉ thanh toán thời hạn 18 tháng là quá ngắn), nâng mức giá tiền đền bù cho các hộ dân có đất bị thu hồi phù hợp với mức giá thực tế hiện nay để nhân dân sớm ổn định cuộc sống
Trả lời:
Công tác tái định cư cho nhân dân tại khu Công nghiệp Bình Vàng.
- Tổng số hộ được giao đất tái định cư và đất chuyển đổi ngành nghề của 3 dự án thuộc khu Công nghiệp Bình Vàng là 200 hộ (Trong đó có một số hộ được giao cả đất tái định cư và đất chuyển đổi ngành nghề) gồm:
+ Số hộ được giao đất ở tái định cư là 146 hộ.
+ Số hộ được giao đất chuyển đổi ngành nghề (đất ở) là 158 hộ.
Kết quả thực hiện:
- Tổng số hộ đã được giao đất ở tái định cư và đất chuyển đổi ngành nghề cụ thể như sau:
+ Số hộ đã được giao đất ở tái định cư là 105 hộ
+ Số hộ được giao đất chuyển đổi nghành nghề là 107 hộ.
 - Số hộ đã bốc thăm đất ở tái định cư nhưng chưa được giao: 30 hộ với lý do:
+ Do xây dựng cơ sở hạ tầng chưa xong: 13 hộ
+ Do chưa giải phóng được mặt bằng:     17 hộ
- Số hộ đã bốc thăm đất chuyển đổi ngành nghề nhưng chưa được giao: 42  hộ với lý do:
+ Do xây dựng cơ sở hạ tầng chưa xong: 24 hộ
+ Do chưa giải phóng được mặt bằng:     18 hộ.
- Số hộ chưa bốc thăm đất ở tái định cư: 11 hộ
- Số hộ chưa bốc thăm đất chuyển đổi ngành nghề: 9 hộ
Ngày 20/6/2012 Hội đồng đền bù phối hợp cùng Ban Quản lý các khu Công nghiệp và UBND xã Đạo Đức tổ chức bốc thăm đợt 2 cho 26 hộ gia đình để giao đất tái định cư và đất chuyển đổi ngành nghề, tại buổi bốc thăm 25/26 hộ gia đình có mặt nhưng chỉ có 14 hộ tham gia bốc thăm, 11 hộ gia đình còn lại không bốc thăm và đề nghị được giao đất tái định cư cho mỗi hộ gia đình phải được giao tại trục đường QL 2 vào cầu khu CN Bình Vàng có diện tích rộng 400 m2 (có chiều rộng bám mặt đường 10m và chiều sâu 40m) hoặc được giao 600 m2 (gồm 01 ô bám mặt đường QL 2 vào cầu khu CN Bình Vàng có chiều rộng 5m, chiều sâu 40 m và 01 ô tại các trục đường bên trong có chiều rộng 10 m và chiều sâu 40 m. Do đề nghị của 11 hộ gia đình vượt quá quỹ đất đã quy hoạch tại trục đường QL 2 vào cầu khu Công nghiệp Bình Vàng và vượt hạn mức giao đất ở tại nông thôn do UBND tỉnh quy định tại Quyết định 3011/2009/QĐ - UBND ngày 20/8/2009 của UBND tỉnh Hà Giang nên việc các hộ đề nghị không có căn cứ để giải quyết. Số hộ chưa bốc thăm đất ở và đất chuyển đổi ngành nghề là do còn thắc mắc về diện tích lô đất được giao tái định cư trên trục đường QL 2 vào khu CN Bình Vàng, UBND huyện đang tập trung giải quyết.
Đối với việc giao đất ở tái định cư và đất chuyển đổi ngành nghề của 48 hộ tương ứng với 30 suất đất ở và 42 suất đất chuyển đổi ngành nghề hiện nay còn vướng mặt bằng (9 hộ dân chưa bàn giao mặt bằng) và xây dựng cơ sở hạ tầng chưa xong nên HĐĐB chưa giao được đất cho các hộ dân ngoài thực địa.
UBND huyện Vị Xuyên đang hoàn thiện hồ sơ để tổ chức cưỡng chế giải phóng mặt bằng đối với 4 hộ gia đình: ông Đào Văn Thông, ông Hoàng Văn Thạch (Vợ là bà Phạm Thị Vi), ông Nguyễn Văn Tụ và ông Đào Văn Dũng để có quỹ đất giao đất cho các hộ gia đình, đồng thời đề nghị ưu tiên bố trí nguồn vốn cho xây dựng cơ sở hạ tầng dự án tái định cư giai đoạn 1, đôn đốc chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ xây dựng hoàn thiện xây dựng cơ sở hạ tầng để giao đất cho nhân dân.
Về việc nhân dân đề nghị tăng thời gian hỗ trợ ổn định đời sống từ 18 tháng lên 36 tháng, UBND tỉnh giao UBND huyện Vị Xuyên tham mưu, đề xuất với tỉnh cho chủ trương hỗ trợ ổn định đời sống của nhân dân.
Về việc tăng đơn giá đền bù đã được UBND tỉnh giải quyết bằng việc điều chỉnh các chính sách hỗ trợ theo Công văn số 369/UBND - NNTL ngày 24/02/2011 của UBND tỉnh Hà Giang về việc chủ trương điều chỉnh các chính sách hỗ trợ tại khu CN Bình Vàng và Quyết định số 685/QĐ - UBND ngày 01/4/2011 của UBND tỉnh Hà Giang về việc bổ sung các chính sách hỗ trợ đối với các hộ dân bị ảnh hưởng do nhà nước thu hồi đất tại khu Công nghiệp Bình Vàng và hiện nay các hộ dân đã nhận đủ tiền đền bù theo quy định.
Lên phía trên
Trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri trước kỳ họp thứ 3 - Đoàn ĐBQH khoá XIII tỉnh Hà Giang (cử tri xã Đạo Đức, huyện Vị Xuyên).
Câu hỏi:
Đề nghị có biện pháp xử lý khói bụi đốt than quặng khu công nghiệp Bình Vàng ảnh hưởng đến môi trường sống của nhân dân
Trả lời:
Ngày 03/05/2012, Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Hà Giang đã tiến hành làm việc với Công ty TNHH Ban Mai và kiểm tra thực tế hiện trường nhà máy sản xuất ferro mangan tại khu công nghiệp Bình Vàng để xác minh nguyên nhân của tình trạng khói bụi gây ảnh hưởng đến môi trường không khí trong khu vực.
Kết quả kiểm tra cho thấy nguyên nhân của tình trạng khói bụi gây ảnh hưởng đến môi trường không khí là do việc đốt than cốc của Công ty TNHH Ban Mai. Việc đốt than cốc này không nằm trong phương án sản xuất của dự án xây dựng Nhà máy sản xuất Ferro Mangan. Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Hà Giang đã yêu cầu Công ty TNHH Ban Mai khắc phục tình trạng sản xuất gây ô nhiễm môi trường và dừng ngay việc đốt than cốc. Công ty TNHH Ban Mai đã cam kết khắc phục tình trạng khói bụi gây ảnh hưởng tới môi trường của việc đốt than cốc trong vòng 03 ngày (tính từ ngày 03/5/2012) và thực hiện xây dựng các hạng mục công trình theo công nghệ tiên tiến, đảm bảo tiêu chuẩn môi trường. Đến nay Công ty TNHH Ban Mai đã dừng hoàn toàn việc đốt than cốc, không còn tình trạng khói bụi gây ảnh hưởng tới môi trường.
Lên phía trên
Trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri trước kỳ họp thứ 3 - Đoàn ĐBQH khoá XIII tỉnh Hà Giang
Câu hỏi:
Đề nghị tỉnh chỉ đạo Công ty điện lực tỉnh xem xét đấu nối điện cho thôn Tân Lợi xã Tân Thành, huyện Bắc Quang (công trình đã hoàn thành từ năm 2011) nhưng đến nay chưa đấu nối để nhân dân được sử dụng
Trả lời:
Hạng mục công trình đường dây 35KV, trạm biến áp 31,5KVA do Công ty điện lực Hà Giang làm chủ đầu tư được khởi công xây dựng cuối năm 2009; hạng mục đường dây 0,4KV do UBND xã Tân Thành làm chủ đầu tư. Tại thời điểm kiểm tra (14/6/2012) công trình đã nghiệm thu, được bàn giao và đóng điện.
Hiện nay, Công ty Điện lực Hà Giang đã chỉ đạo Công ty Điện lực Bắc Quang thực hiện đầu nối và cấp điện cho công trình trong tháng 6 năm 2012. Đồng thời khảo sát lập kế hoạch cung ứng vật tư thiết bị để thực hiện bán lẻ điện trực tiếp đến 78 hộ dân thôn Tân Lợi và các thôn liền kề khác.
Lên phía trên
Trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri trước kỳ họp thứ 3 - Đoàn ĐBQH khoá XIII tỉnh Hà Giang (Cử tri xã Quảng Nguyên, huyện Xín Mần)
Câu hỏi:
Đề nghị UBND tỉnh xem xét chuyển địa điểm dự án thuỷ điện nằm trên suối Nặm Ly thuộc thôn Quảng Hạ, xã Quảng Nguyên, vì nếu xây dựng tại địa điểm này sẽ ngập úng nhiều diện tích ruộng của nhân dân (theo văn bản số 636/UBND-CNGTXD ngày 23/02/2012 của UBND tỉnh về việc đồng ý khảo sát, lập dự án đầu tư 02 dự án thuỷ điện tại xã Quảng Nguyên, huyện Xín Mần).
Trả lời:
Hai dự án xây dựng Thủy điện vừa và nhỏ trên địa bàn xã Quảng Nguyên đã được UBND tỉnh Hà Giang cho chủ trương đồng ý khảo sát, lập dự án cơ sở tại văn bản số: 636/UBND-CNGTXD ngày 23/02/2012. Hiện nay, Công ty tư vấn thiết kế Đại Phát – Hà Nội đã triển khai và thực hiện xong bước khảo sát cơ sở vào tháng 4 năm 2012. Hai dự án trên đã trình thẩm định hồ sơ tại Sở công thương, sau khi thẩm định xong Sở công thương sẽ tổ chức Hội nghị tư vấn đầu tư xây dựng tại huyện Xín Mần, do đó chưa thực hiện được các bước tư vấn với chính quyền xã và nhân dân cho ý kiến vào 02 dự án này.
Lên phía trên
Bộ Xây dựng trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri tỉnh Hà Giang sau kỳ họp thứ 3 - Quốc hội khóa XIII tại công văn số 305/BXD-QLN ngày 28/02/2013
Câu hỏi:
Cử tri tiếp tục đề nghị Chính phủ nâng mức hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở lên 20 đến 30 triệu đồng/hộ để đảm bảo nhà ở ổn định, an toàn theo quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở.
Trả lời:
Việc hỗ trợ nhà ở cho các hộ gia đình nghèo có khó khăn về nhà ở theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg và Quyết định 67/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trong thời gian vừa qua đã thực hiện được trên 510.000 hộ. Tuy nhiên, theo báo cáo sơ bộ của các địa phương cả nước thì hiện nay vẫn còn trên 500.000 hộ theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015 có khó khăn về nhà ở cần được hỗ trợ để đảm bảo cho họ có cuộc sống an toàn, ổn định. Do vậy, việc cử tri các tỉnh kiến nghị Thủ tướng Chính phủ cho tiếp tục thực hiện hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở là cần thiết.
Về mức hỗ trợ: Theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg và Quyết định 67/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì những hộ dân thuộc diện đối tượng được Ngân sách Trung ương hỗ trợ với mức 6 triệu đồng/hộ và những hộ dân thuộc diện đối tượng đang cư trú tại các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn quy định tại Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 05/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn thì Ngân sách Trung ương hỗ trợ 07 triệu đồng/hộ để xây dựng nhà ở; các địa phương có trách nhiệm hỗ trợ thêm từ Ngân sách địa phương với mức không thấp hơn 20% so với mức Ngân sách Trung ương hỗ trợ. Như vậy, mỗi hộ dân được Ngân sách Nhà nước hỗ trợ tối thiểu từ 7,2 – 8,4 triệu đồng/hộ; đồng thời, mỗi hộ dân được vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội với mức 8 triệu đồng/hộ. Ngoài mức hỗ trợ và mức vay theo quy định, các địa phương đã tích cực vận động sự ủng hộ, giúp đỡ của các tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp, các nhà hảo tâm, cũng như sự giúp đỡ của anh em, dòng họ và sự đóng góp của các hộ gia đình, do đó hầu hết nhà ở được hỗ trợ đều đảm bảo và vượt quy định về diện tích và chất lượng (diện tích tối thiểu 24 m2, nhà ở đảm bảo “3 cứng”: Nền cứng, khung – tường cứng, mái cứng, tuổi thọ căn nhà từ 10 năm trở lên).
Tuy nhiên, hiện nay, giá vật liệu xây dựng đã tăng khá cao, vì vậy với mức hỗ trợ nói trên sẽ rất khó khăn để có thể xây dựng được căn nhà đảm bảo diện tích và chất lượng như quy định nói trên, đúng như ý kiến cử tri đã nêu.
Để tiếp tục thực hiện việc hỗ trợ nhà ở cho các hộ nghèo, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và các địa phương nghiên cứu, xây dựng Đề án và cơ chế, chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo chuẩn nghèo mới giai đoạn 2011- 2015. Hiện nay, Đề án và dự thảo cơ chế, chính sách hỗ trợ nhà ở, Bộ Xây dựng đã trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định, theo đó, mức hỗ trợ có đề xuất tăng lên để phù hợp với giá cả vật liệu xây dựng, đảm bảo yêu cầu mức hỗ trợ của Nhà nước cùng với với các nguồn vốn huy động khác, các hộ nghèo có thể xây dựng được căn nhà có diện tích tối thiểu 24m2, nhà ở đảm bảo “3 cứng”: Nền cứng, khung – tường cứng, mái cứng, tuổi thọ căn nhà từ 10 năm trở lên như quy định tại Quyết định 167/2008/QĐ-TTg, đủ điều kiện tối thiểu để người dân có nơi cư trú an toàn trong điều kiện bình thường như ý kiến của cử tri.
Riêng đối với Quyết định số 74/2008/QĐ-TTg ngày 09/6/2008 của Thủ tướng Chính phủ chỉ qui định về chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở, đất sản xuất và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2008 – 2010, không quy định hỗ trợ về nhà ở.
Lên phía trên
Bộ Tư pháp trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri tỉnh Hà Giang trước kỳ họp thứ 3 - Quốc hội khóa XIII tại văn bản số 7255/BTP-VP ngày 07/9/2012
Câu hỏi:
Hiện các cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Hà Giang đang thụ lý một số lượng lớn các vụ việc thi hành án là người nước ngoài (chủ yếu là người Trung Quốc). Nhưng sau khi chấp hành án phạt tù xong trở về nước thì cơ quan thi hành án dân sự không thể thi hành được vì chưa có văn bản quy định hướng dẫn quy trình, thủ tục thực hiện. Đề nghị Chính phủ, các Bộ, ngành chức năng ban hành văn bản hướng dẫn thi hành đối với loại án này.
Trả lời:
Người nước ngoài sau khi chấp hành xong án phạt tù nhưng chưa thi hành xong nghĩa vụ dân sự, Điều 9 Pháp lệnh về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam đã quy định cụ thể như sau:
“1. Người nước ngoài có thể bị tạm hoãn xuất cảnh nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:
c) Đang có nghĩa vụ thi hành bản án dân sự, kinh tế, lao động;
d) Đang có nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nghĩa vụ nộp thuế và những nghĩa vụ khác về tài chính.
2. Những trường hợp quy định tại điểm c và điểm d khoản 1 Điều này, nếu có bảo lãnh bằng tiền, tài sản hoặc có biện pháp khác để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đó theo quy định của pháp luật Việt Nam, thì được xuất cảnh”.
Do đó, nếu người nước ngoài chưa thi hành xong nghĩa vụ dân sự, chưa được bảo lãnh hoặc có biện pháp khác để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự mà để được trở về nước là trái với quy định của pháp luật.
Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ kiểm tra thông tin Cử tri nêu và chỉ đạo cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Hà Giang giải quyết đúng pháp luật.
Cơ quan Thi hành án dân sự trước hết phải phối hợp chặt chẽ với Trại giam, Trại tạm giam để theo dõi các trường hợp này và đảm bảo thực hiện đầy đủ các thủ tục cần thiết trước khi cho người nước ngoài xuất cảnh về nước.
Mặt khác, đối với các trường hợp đã chấp hành án phạt tù xong và trở về nước, phần nghĩa vụ dân sự còn lại chưa được thực hiện, pháp luật hiện hành đã có quy định để giải quyết thông qua tương trợ tư pháp. Vấn đề này được quy định cụ thể tại Điều 181 của Luật Thi hành án dân sự .
Theo đó, cơ quan Thi hành án dân sự cần lập hồ sơ ủy thác tư pháp với ngôn ngữ phù hợp theo quy định tại Điều 11 Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 và Thông tư liên tịch số 15/2011/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 15/9/2011 hướng dẫn áp dụng một số quy định về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của Luật Tương trợ tư pháp. Hồ sơ ủy thác tư pháp được gửi về Bộ Tư pháp để yêu cầu tương trợ tư pháp.
Lên phía trên
Bộ Tài chính trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri tỉnh Hà Giang trước kỳ họp thứ 2 - Quốc hội khoá XIII tại văn bản số 3390/BTC-NSNN ngày 13/3/2012
Câu hỏi:
Đề nghị Chính phủ, Bộ tài chính xem xét điều chỉnh chính sách hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và xử lý môi trường cho các làng nghề, cụm cơ sở ngành nghề nông thôn (theo Thông tư số 113/2006/TT-BTC ngày 28/12/2006 của Bộ tài chính): đối với các tỉnh khó khăn được hỗ trợ 100% từ ngân sách trung ương.
Trả lời:
Để thực hiện chính sách hỗ trợ địa phương phát triển ngành nghề nông thôn, Chính phủ ban hành Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 7/7/2006 về phát triển ngành nghề nông thôn và Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 113/2006/TT-BTC ngày 28/12/2006 hướng dẫn Nghị định trên, trong đó, đối với nguồn kinh phí hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và xử lý môi trường cho làng nghề, cụm cơ sở ngành nghề nông thôn, tại tiết 2.1 điểm 2 phần II của 113/2006/TT-BTC quy định: “căn cứ quy hoạch tổng thể phát triển ngành nghề nông thôn trên địa bàn tỉnh được cấp thẩm quyền phê duyệt ...., trong đó xác định rõ nguồn kinh phí thực hiện dự án bao gồm: từ ngân sách nhà nước, nguồn huy động từ các tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ việc đầu tư dự án và nguồn huy động hợp pháp khác. Trong đó nguồn hỗ trợ từ ngân sách địa phương tối đa là 60% tổng mức đầu tư dự án.... Đối với những tỉnh khó khăn về ngân sách, ngân sách trung ương hỗ trợ một phần trong dự toán ngân sách hàng năm để thực hiện, mức hỗ trợ do Chính phủ trình Quốc hội quyết định theo quy định của Luật ngân sách Nhà nước”. Từ năm 2007 – 2012 ngân sách trung ương hỗ trợ cho tỉnh thực hiện chính sách phát triển ngành nghề nông thôn trong chương trình hỗ trợ đầu tư phát triển kinh tế - xã hội  các vùng theo Nghị quyết của Bộ Chính trị với tổng số hỗ trợ chương trình là 638,4 tỷ đồng (năm 2007: 50,6 tỷ đồng, năm 2008: 68,7 tỷ đồng, năm 2009: 117,1 tỷ đồng, năm 2010: 98 tỷ đồng, năm 2011: 131 tỷ đồng, năm 2012: 173 tỷ đồng).
Ngoài ra, để giúp địa phương miền núi, vùng cao phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách ưu tiên cho các tỉnh miền núi vùng cao (trong đó có tỉnh Hà Giang) như: Nghị quyết 30a/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo; Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở; Chương trình giống cây trồng, vật nuôi, giống thuỷ sản đầu tư phát triển kinh tế - xã hội tuyến biên giới Việt – Trung; chương trình kiên cố hoá kênh mương, phát triển đường giao thông nông thôn, cơ sở hạ tầng nuôi trồng thuỷ sản và cơ sở hạ tầng làng nghề ở nông thôn... Để thực hiện các chủ trương, chính sách nếu trên hàng năm ngân sách trung ương đã bố trí hỗ trợ có mục tiêu và cho vay tín dụng ưu đãi để tỉnh thực hiện (như năm 2011 bố trí 700,6 tỷ đồng, năm 2012 bố trí 871,5 tỷ). Vì vậy, đề nghị tỉnh chủ động sử dụng nguồn ngân sách trung ương đã hỗ trợ, nguồn ngân sách địa phương và các nguồn tài chính hợp pháp để thực hiện chính sách hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và xử lý môi trường cho các làng nghề, cụm cơ sở ngành nghề nông thôn theo quy định.
Lên phía trên
Uỷ Ban dân tộc trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri tỉnh Hà Giang trước Kỳ họp thứ 2 - Quốc hội khoá XIII tại văn bản số 239/UBDT-CSDT ngày 30/3/2012
Câu hỏi:
Đề nghị Trung ương tiếp tục đầu tư, kéo dài Chương trình 135 chuyển sang giai đoạn III để đồng bào dân tộc được hưởng các chế độ, chính sách xoá đói, giảm nghèo.
Trả lời:
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại thông báo số 153/TB-VPCP ngày 11/5/2009, Nghị quyết số 22/2009/NQ-CP ngày 28/5/2009 của Chính phủ, Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ, Nghị quyết 929/2010/NQ-UBTVQH12, ngày 20/4/2010 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Uỷ ban dân tộc đã phối hợp với các tỉnh đã tiến hành điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng kinh tế xã hội của 1.848 xã và 3.274 thôn, bản đặc biệt khó khăn thuộc diện đầu tư của chương trình 135 giai đoạn II; đề xuất những vấn đề bức xúc cần giải quyết trong thời gian tới. Trên cơ sở số liệu điều tra, khảo sát, đề xuất của địa phương và báo cáo tổng kết đánh giá 5 năm thực hiện chương trình 135 giai đoạn II, Uỷ ban dân tộc đã phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, xây dựng chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn vùng dân tộc miền núi giai đoạn 2011 – 2015, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định tại tờ trình số 31/TTr-UBDT ngày 25/10/2011 với nội dung cơ bản gồm các phần:
- Hỗ trợ phát triển sản xuất tạo sinh kế bền vững;
- Nâng cao năng lực và tăng cường chất lượng dịch vụ công;
- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển sản xuất và dân sinh.
Chương trình dự kiến thực hiện trên địa bàn 50 tỉnh với tổng vốn dự kiến đầu tư, hỗ trợ là 25.861 tỷ đồng.
Tuy nhiên, theo ý kiến chỉ đạo của Chính phủ trong việc bố trí, sắp xếp phù hợp các chương trình giảm nghèo giai đoạn 2011 – 2020 trên cơ sở thực hiện Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 về định hướng giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 – 2020, Chính phủ yêu cầu Uỷ ban dân tộc điều chỉnh lại nội dung Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn vùng dân tộc miền núi giai đoạn 2011 – 2015 để phù hợp với định hướng chung.
Ngày 18 tháng 12 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2406/QĐ-TTg về việc ban hành danh mục các Chương trình mục tiêu Quốc gia giai đoạn 2011 – 2015 trong đó có chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững. Ngày 21/12/2011, Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành văn bản 8845/BKHDT-TCTT về hướng dẫn thực hiện tăng cường quản lý vốn đầu tư ngân sách Trung ương thực hiện các chương trình mục tiêu Quốc gia năm 2012 nêu: “Chương trình 135 giai đoạn III được lồng ghép thành dự án 2: Hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn đặc biệt khó khăn”. Các chính sách giảm nghèo khác (trong đó có các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn) đã được quy định trong Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020.
Với các ý kiến chỉ đạo như trên, Uỷ ban dân tộc cho rằng chưa bao quát được hết các vấn đề của các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn cần được giải quyết; đồng thời chưa đáp ứng được mục tiêu Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ là “Cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư”.
Do vậy, Uỷ ban dân tộc tiếp tục khiến nghị với Thủ tướng Chính phủ sớm phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn giai đoạn 2012 – 2015 và không thuộc Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 – 2015
Lên phía trên
Ban tổ chức Trung ương trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri tỉnh Hà Giang trước kỳ họp thứ 2 - Quốc hội khoá XIII tại công văn số 3756-CV/BTCTW ngày 14/11/2012
Câu hỏi:
Theo Thông báo số 13-TB/TW, ngày 28-3-2011 của Bộ Chính trị về thực hiện chế độ phụ cấp công tác đảng, đoàn thể chính trị - xã hội đối với cán bộ, công chức, người lao động (hưởng lương từ ngân sách nhà nước) làm việc ở các cơ quan đảng, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội từ cấp Trung ương đến cấp huyện. Đề nghị Bộ chính trị xem xét bổ sung đối tượng cán bộ cán bộ, công chức, người lao động (hưởng lương từ ngân sách nhà nước) làm việc ở các cơ quan đảng, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội cấp xã, phường, thị trấn được hưởng chế độ phụ cấp công tác theo Thông báo số 13-TB/TW, ngày 28-3-2011 của Bộ Chính trị.
Trả lời:
Ngày 26-3-2012 Ban Tổ chức Trung ương có Công văn số 2240- CV/BTCTW phúc đáp Công văn số 486/BDN, ngày 14-12-2011 của Ban Dân nguyện, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc giải quyết kiến nghị của cử tri gửi đến kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá XIII, với nội dung:

Trong quá trình thực hiện Hướng dẫn số 05-HD/BTCTW, ngày 01-7-2011 của Ban Tổ chức Trung ương về thực hiện một số chế độ phụ cấp đối với cán bộ, công chức cơ quan đảng, đoàn thể chính trị - xã hội theo Thông báo số 13-TB/TW; nhiều địa phương, đơn vị có văn bản gửi các cấp lãnh đạo và Ban Tổ chức Trung ương đề nghị bổ sung đối tượng được hưởng phụ cấp công tác đảng, đoàn thể trong đó có cán bộ cấp xã (bao gồm cả đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã). Nhận thấy đây là một vấn đề lớn, liên quan đến nhiều quy định hiện hành về chế độ chính sách; Ban Tổ chức Trung ương đã có báo cáo và được Bộ Chính trị cho ý kiến chỉ đạo, như sau:

“Trước mắt giữ nguyên đối tượng được hưởng phụ cấp công tác đảng, đoàn thể quy định tại Hướng dẫn số 05-HD/BTCTW, ngày 01-7-2011 của Ban Tổ chức Trung ương. Các đề nghị bổ sung đối tượng hưởng phụ cấp này sẽ được đưa vào nghiên cứu trong quá trình xây dựng Đề án Cải cách tổng thể chính sách tiền lương giai đoạn 2012-2020...” (Thông báo số 78-TB/TW, ngày 02-3-2012).

Ban Tổ chức Trung ương đề nghị Ban Dân nguyện, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội các địa phương nêu trên chuyển thông tin này đến cử tri. Hiện nay, Ban Tổ chức Trung ương đang thực hiện nhiệm vụ phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, trong đó có cán bộ, công chức cấp xã.
Lên phía trên
Trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri trước kỳ họp thứ 2 - Đoàn ĐBQH khoá XIII tỉnh Hà Giang (cử tri các huyện trong tỉnh)
Câu hỏi:
Đề nghị tỉnh xem xét cho tách các thôn bản có dân số đông (từ trên 100 hộ) và địa bàn rộng
Trả lời:
Ngày 27/9/2011, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 2053/QĐ-UBND về việc chia tách, thành lập 22 thôn mới thuộc các huyện: Bắc Quang, Quang Bình, Bắc Mê, Đồng Văn, trong đó bao gồm các thôn mà cử tri đã phản ánh, đề nghị.
Đối với các thôn, tổ dân phố khác, nếu đủ điều kiện (theo Quyết định số 3501/2004/QĐ-UBND, về việc quy định về tiêu chí và trình tự tách thôn, bản) thì yêu cầu UBND các huyện chỉ đạo, hướng dẫn UBND cấp xã có nhu cầu xây dựng Đề án chia tách thành lập thôn, tổ dân phố mới, trình HĐND cấp xã thông qua, UBND huyện làm văn bản đề nghị Sở Nội vụ thẩm định, tổng hợp trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định.
Lên phía trên
Văn Phòng Quốc hội trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri tỉnh Hà Giang trước Kỳ họp thứ 2 - Quốc hội khoá XIII tại Công văn số 2247/VPQH-TH ngày 5/10/2012
Câu hỏi:
Tại các buổi tiếp xúc cử tri nhiều ý kiến đề nghị Quốc hội xem xét rút ngắn thời gian các kỳ họp Quốc hội để tiết kiệm thời gian, ngân sách
Trả lời:
Trong những năm qua, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã luôn quan tâm chỉ đạo nghiên cứu cải tiến, đổi mới kỳ họp nhằm rút ngắn thời gian nhưng vẫn bảo đảm chất lượng nội dung trình Quốc hội. Thực tế cho thấy tại các kỳ họp gần đây của Quốc hội khóa XIII, thời gian tiến hành đã được rút ngắn (tổng thời gian làm việc của Quốc hội tại kỳ họp thứ nhất là 14 ngày, tại kỳ họp thứ 2 là 29 ngày, tại kỳ họp thứ 3 là 30 ngày; trong khi mỗi kỳ họp của các khóa trước, Quốc hội thường họp trong hơn 1 tháng, thậm chí có kỳ họp lên tới 45 ngày).

Tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 27/2012/QH13 về một số cải tiến, đổi mới để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, trong đó có các giải pháp cụ thể để cải tiến, đổi mới hoạt động của Quốc hội trên các lĩnh vực lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng, tổ chức kỳ họp Quốc hội, hoạt động tiếp xúc cử tri. Thực hiện tốt các giải pháp này, nhất là tập trung nâng cao chất lượng chuẩn bị các dự án, đề án, báo cáo trình Quốc hội; tăng hoạt động giữa 2 kỳ họp Quốc hội của đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội; xem xét, thảo luận các báo cáo về kinh tế - xã hội, các dự án, đề án, báo cáo khác tại kỳ họp Quốc hội theo hướng tăng thời gian thảo luận, rút ngắn thời gian trình bày văn bản,... sẽ rút ngắn được thời gian nhưng vẫn bảo đảm chất lượng nội dung trình Quốc hội.
Lên phía trên
Bộ tài chính trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri tỉnh Hà Giang trước kỳ họp thứ 4 - Quốc hội khóa XIII tại công văn số 701 /BTC-NSNN ngày 14 tháng 01 năm 2013
Câu hỏi:
Theo Quyết định số 289/QĐ-TTg ngày 18/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành một số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân: Điều 1 khoản 1 quy định: "Cấp bằng tiền tương đương 5 lít dầu hoả/năm (dầu thắp sáng) cho các hộ là đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo ở những nơi chưa có điện lưới"; Quyết định số 268/QĐ-TTg ngày 23/02/2011 của Thủ tướng Chính phủ về biểu giá bán lẻ điện: Điều 1, khoản 1, mục đ quy định: "Các hộ thuộc diện hộ nghèo theo tiêu chí do Thủ tướng Chính phủ quy định được hỗ trợ giá điện cho 50kWh/tháng, mức hỗ trợ là 30.000đồng/hộ/tháng. Kinh phí hỗ trợ giá điện cho các hộ nghèo lấy từ tiền bán điện; Đề nghị Chính phủ xem xét nâng mức hỗ trợ tiền dầu thắp sáng cho các hộ là đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo ở những nơi chưa có điện lưới (theo Quyết định 289/QĐ-TTg) tương đương với mức hỗ trợ giá điện cho các hộ nghèo (theo Quyết định 268/QĐ-TTg), để tránh thiệt thòi giữa các hộ nghèo, hộ gia đình chính sách, hộ đồng bào dân tộc thiểu số chưa được sử dụng điện.
Trả lời:
Ngày 18/3/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 289/QĐ-TTg về một số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân; trên cơ sở đó, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 37/2008/TT-BTC hướng dẫn chính sách hỗ trợ dầu hỏa thắp sáng cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách và hộ nghèo ở những nơi chưa có điện lưới, theo đó: các hộ là đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách và hộ nghèo ở những nơi chưa có điện lưới được hỗ trợ bằng tiền tương đương 5 lít dầu hỏa/năm để thắp sáng.
Đồng thời, để hỗ trợ hộ nghèo có kinh phí để thắp sáng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chính sách hỗ trợ tiền điện cho các hộ nghèo với mức hỗ trợ 30.000 đồng/hộ/tháng, theo đó tất cả các hộ nghèo được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo chuẩn nghèo quốc gia quy định tại Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015 đều được hỗ trợ trực tiếp 30.000 đồng/hộ/tháng.
Mức hỗ trợ trên cơ bản đã đảm bảo được nhu cầu thắp sáng của hộ nghèo và đáp ứng kiến nghị của cử tri đề xuất.
Lên phía trên
Trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri trước kỳ họp thứ 2 - Đoàn ĐBQH khóa XIII tỉnh Hà Giang (cử tri thôn Cầu Mè, xã Phượng Thiện, Thành phố Hà Giang)
Câu hỏi:
UBND tỉnh đã thu hồi đất của 05 hộ thôn Cầu Mè, xã Phương Thiện, Thành phố Hà Giang để quy hoạch xây dựng bến xe, 05 hộ gia đình đã phải di chuyển đến nơi ở tạm, mưu lũ thường xuyên bị ngập lụt; theo cam kết sau 06 tháng UBND tỉnh sẽ cấp đất ở mới cho 05 hộ, nhưng đến nay sau hơn ba năm dự án vẫn chưa được khởi công xây dựng, cử tri đã kiến nghị nhiều lần vẫn chưa được cấp đất ở. Cử tri yêu cầu UBND tỉnh xem xét cấp đất cho 5 hộ gia đình theo cam kết để nhân dân yên tâm lao động sản xuất
Trả lời:
Ngày 11/11/2011, Ban thường vụ Thành uỷ Hà Giang họp và đồng ý với Phương án bố trí giao đất ở (đợt 1) cho các hộ gia đình theo Tờ trình số 143/TTr-UBND ngày 18 tháng 3 năm 2011 của UBND thành phố, đồng thời giao cho UBND thành phố hoàn chỉnh hồ sơ trình UBND tỉnh phê duyệt. Sau khi có quyết định của UBND tỉnh, UBND thành phố chỉ đạo giao đất tái định cư ngoài thực địa cho các hộ gia đình, cá nhân thuộc diện tái định cư cụ thể như sau:
1. Hộ ông Nguyễn Quang Vinh dự kiến được giao đất tái định cư ở Khu tái định cư thôn Châng bám đường đi kho K8 là 100 m2 và khu tái định cư bám đường đôi thuộc thôn Lâm Đồng, xã Phương Thiện là 100 m2.
2. Hộ ông Lê Văn Lâm dự kiến được giao đất tái định cư ở Khu tái định cư thôn Châng bám đường đi kho K8 là 100 m2 và khu tái định cư bám đường đôi thuộc thôn Lâm Đồng, xã Phương Thiện là 100 m2.
3. Hộ ông Lê Văn Độ dự kiến được giao đất tái định cư ở Khu tái định cư thôn Châng bám đường đi kho K8 là 200 m2 .
4. Hộ ông Lê Văn Đãi dự kiến được giao đất tái định cư ở Khu tái định cư thôn Châng bám đường đi kho K8 là 200 m2 .
5. Hộ ông Nguyễn Khánh Luận dự kiến được giao đất tái định cư ở Khu tái định cư thôn Châng bám đường đi kho K8 là 200 m2.

Lên phía trên
Trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri trước kỳ họp thứ 2 - Đoàn ĐBQH khóa XIII tỉnh Hà Giang (cử tri xã Đồng Tâm, huyện Bắc Quang).
Câu hỏi:
Đề nghị tỉnh xem xét bố trí cho Phó Chủ tịch Hội người cao tuổi ở xã, phường, thị trấn được hưởng chế độ phụ cấp hàng tháng như những người hoạt động không chuyên trách theo Nghị định số 92/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ
Trả lời:
Theo quy định của pháp luật hiện hành, Chủ tịch của Hội người Cao tuổi là người hoạt động không chuyên trách cấp xã, còn Phó Chủ tịch Hội người Cao tuổi không phải là cán bộ không chuyên trách cấp xã nên không thuộc diện được hưởng chế độ phụ cấp.
Mặt khác, hiện nay ngân sách địa phương hạn hẹp, đồng thời tỉnh đang thực hiện quyết liệt Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, nên không thể hỗ trợ chế độ phụ cấp theo kiến nghị của cử tri.
Lên phía trên
Bộ Tài chính trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri tỉnh Hà Giang, sau kỳ họp thứ 3 và trước kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII
Câu hỏi:
1. Trong các tỉnh miền núi phía đông bắc: các chương trình, dự án đầu tư cho tỉnh Hà Giang nguồn vốn với mức đầu tư thấp nhất khu vực. Đề nghị Bộ tham mưu với Chính phủ xem xét, quyết định cho tỉnh Hà Giang được hướng cơ chế đặc thù; thu ngân sách địa phương để lại 100%, tỉnh chủ động cấn đối đầu tư, thời gian thí điểm thực hiện trong một nhiệm kỳ 5 năm.

2. Đề nghị Chính phủ xem xét nâng mức hỗ trợ tiền dầu thắp sáng cho các hộ là đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo ở những nơi chưa có điện lưới (theo Quyết định 289/QĐ-TTg mức hỗ trợ bằng tiền tương đương 5 lít dầu hỏa/năm) tương đương với mức hỗ trợ giá điện cho các hộ nghèo (theo Quyết định 268/QĐ-TTg mức hỗ trợ là 30.000 đồng/tháng), để tránh sự thiệt thòi giữa các hộ nghèo, hộ gia đình chính sách, hộ đồng bào dân tộc thiểu số chưa được sử dụng điện lưới.
Trả lời:
1. Việc phân bổ vốn đầu tư cho các địa phương thực hiện theo Quyết định số 60/2011/QĐ-TTg ngày 30/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2011 – 2015, trong đó mức vốn đầu tư phân bổ cho các địa phương khó khăn, trong đó tỉnh Hà Giang được căn cứ theo các nguyên tắc,  tiêu chí như dân số và số người dân tộc thiểu số, tỷ lệ hộ nghèo... Mức vốn đầu tư hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương được xác định đối với từng chương trình, mục tiêu cụ thể.

Theo quy định của Luật ngân sách nhà nước, thu ngân sách nhà nước của tỉnh Hà Giang mới chỉ đáp ứng một phần chi cân đối ngân sách địa phương và tỉnh Hà Giang được hưởng cơ bản số thu nội địa trên địa bàn (trừ một số khoản thu ngân sách trung ương hưởng 100% chiếm tỷ lệ rất nhỏ như: thu phí, lệ phí của trung ương, thu khác của doanh nghiệp nhà nước trung ương và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài), đồng thời nhận bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương. Đồng thời, hàng năm, thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về nguồn kinh phí để thực hiện cải cách tiền lương, Bộ Tài chính đã trình Thủ tướng Chính phủ để lại một phần số 50% tăng thu ngân sách địa phương để thực hiện các nhiệm vụ an sinh xã hội, nhiệm vụ cấp bách phát sinh và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, trong đó có tỉnh Hà Giang (tăng thu ngân sách địa phương năm 2011, Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ để lại 100% cho địa phương là 38,588 triệu đồng).

Vì vậy, đối với đề nghị tỉnh Hà Giang về để lại 100% thu ngân sách địa phương cho tỉnh chủ động cân đối đầu tư, đề nghị tỉnh thực hiện theo đúng quy định của Luật Ngân sách Nhà nước.

2. Ngày 18/3/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 289/QĐ-TTg về một số chính sách hỗ trợ vùng đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân, trên cơ sở đó. Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 37/2008/TT-BTC hướng dẫn chính sách hỗ trợ dầu hỏa thắp sáng cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách và hộ nghèo ở những nơi chưa có điện lưới được hỗ trợ bằng tiến tương đương 5 lít dầu hỏa/năm để thắp sáng

Đồng thời, để hỗ trợ hộ nghèo có kinh phí để thắp sáng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chính sách hỗ trợ tiền điện cho các hộ nghèo với mức hỗ trợ duyệt theo chuẩn nghèo quốc gia quy định tại Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015 đều được hỗ trợ trực tiếp 30.000 đồng/hộ/tháng.
         
Mức hỗ trợ trên cơ bản đã đảm bảo nhu cầu thắp sáng của hộ nghèo và đáp ứng kiến nghị cử tri đề xuất.
Lên phía trên
Trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri UBND tỉnh trả lời sau kỳ họp thứ 8 của Đoàn ĐBQH khóa XIII tỉnh Hà Giang (cử tri thị trấn Phó Bảng, huyện Đồng Văn )
Câu hỏi:
Đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo sớm chi trả tiền hỗ trợ làm nhà ở đối với người có công với cách mạng; hiện nay nhiều hộ gia đình đã làm xong nhà nhưng đến nay chưa nhận được tiền hỗ trợ.
Trả lời:
Tổng nhu cầu kinh phí hỗ trợ cho người có công về nhà ở theo danh sách phê duyệt tại quyết định số 1993/QĐ-UBND ngày 20/9/2013 của UBND tỉnh là 31.356 triệu đồng. Hiện nay, Trung ương mới cấp kinh phí cho tỉnh Hà Giang là 3.600 triệu đồng cho 106 hộ làm mới và sửa chữa nhà ở (theo báo cáo của Quốc hội). UBND tỉnh sẽ tiếp tục kiến nghị với Trung ương và nghiên cứu các nguồn lực để tiếp tục hỗ trợ cho gia đình người có công về nhà ở theo quy định và thứ tự ưu tiên.
 
Lên phía trên
Trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri các bộ ngành trả lời sau kỳ họp thứ 8 của Đoàn ĐBQH khóa XIII tỉnh Hà Giang (cử tri các huyện, TP)
Câu hỏi:
Đề nghị chính phủ xem xét đưa dân tộc Ngạn (dân tộc Ngạn là một nhánh nằm trong hệ ngữ Tày – Thái có bản sắc riêng) vào danh sách các dân tộc thiểu số Việt Nam và có cơ chế chính sách hỗ trợ ưu tiên dân tộc Ngạn.
Trả lời:
Việc xác định lại thành phần dân tộc đang được Ủy ban Dân tộc tiến hành xây dựng Đề án và trình Thủ tướng Chính phủ xem xét để ban hành tiêu chí xác định thành phần dân tộc. Vì vậy, việc xét đưa dân tộc Ngạn vào danh sách các dân tộc thiểu số Việt Nam sẽ được xem xét khi tiến hành rà soát xác định thành phần dân tộc giai đoạn sau. Ủy ban Dân tộc đang tích cực triển khai các nhiệm vụ được Chính phủ giao để sớm báo cáo và trình cấp có thẩm quyền công bố thành phần dân tộc, danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam.
Lên phía trên
Trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri từ sau Kỳ họp thứ nhất đến sau Kỳ họp thứ hai khóa 17 (Cử tri xã Thông Nguyên, huyện Hoàng Su Phì)
Câu hỏi:
Đề nghị UBND tỉnh xem xét, sớm đầu tư kinh phí làm mới, sửa chữa mương dẫn nước tưới tiêu đồng ruộng thuộc thôn Phìn Hồ và xây dựng đường ống dẫn nước sinh hoạt cho khu vực bệnh viện, chợ của trung tâm xã Thông Nguyên
Trả lời:
UBND tỉnh giao UBND huyện Hoàng Su Phì đăng ký nhu cầu đầu tư gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư để xem xét triển khai thực hiện khi đảm bảo các điều kiện về nguồn vốn.
Lên phía trên
Kết quả giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri theo đề nghị của Đoàn ĐBQH tỉnh theo BC 336
Câu hỏi:
1. Về phản ánh của cử tri việc thu lệ phí cấp giấy phép lái xe mô tô 2 bánh với mức 190.000 là sai, đề nghị thu đúng theo quy định tại Thông tư 73/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính là 135.000 đồng (Cử tri huyện Quản Bạ)
2. Câu hỏi: Về đề nghị bố trí đủ nguồn kinh phí cấp đủ cho các đối tượng tham gia huấn luyện dân quân tự vệ theo quy định (hiện nay lực lượng dân quân tự vệ khi tham gia huấn luyện mới chỉ được hỗ trợ tiền ăn, chưa được trợ cấp ngày công lao động (cử tri các huyện Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc).
3. Câu hỏi: Về đề nghị tỉnh quan tâm và có cơ chế đào tạo, bồi dưỡng tập huấn nghiệp vụ chuyên môn và nâng mức phụ cấp đối với cán bộ làm công tác thú y xã (cử tri huyện Yên Minh)
4. Câu hỏi: Về đề nghị tỉnh xem xét chi trả chế độ thù lao cho các Hội đặc thù theo Quyết định số 68 của Chính phủ cho các hội đặc thù cấp huyện, xã (cử tri huyện Quang Bình).
5. Câu hỏi: Về đề nghị UBND tỉnh tiếp tục quan tâm phân bổ kinh phí cho các huyện hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở (cử tri xã Phú Linh, huyện Vị Xuyên)
6. Câu hỏi: Về đề nghị UBND tỉnh có cơ chế, chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội cho 6 xã của huyện Vị Xuyên gồm: Kim thạch, Kim Linh, Phú Linh, Linh Hồ, Bạch Ngọc, Ngọc Linh. Vì 6 xã này có nhiều cống hiến và đóng góp cho cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc 1984 – 1989 (cử tri xã Phú linh huyện Vị Xuyên)
7. Câu hỏi: Về đề nghị tỉnh quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho các trường học trên địa bàn các huyện để thực hiện chủ trương đưa học sinh tại các điểm trường về trường chính (cử tri huyện Hoàng Su Phì)
8. Câu hỏi: Về đề nghị UBND tỉnh cần tuyên truyền, phổ biến, tạo điều kiện cho người dân tham gia góp ý, có điều kiện giám sát tổ chức thực hiện, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong công tác quy hoạch, đầu tư (cử tri huyện Đồng Văn, Mèo Vạc)
9. Câu hỏi: Về đề nghị HĐND tỉnh xem xét, trình bày Báo cáo kết quả giải quyết ý kiến, kiến nghị cử tri của UBND tỉnh tại phiên truyền hình trực tiếp khai mạc kỳ họp HĐND tỉnh (cử tri xã Phú Linh, huyện Vị Xuyên).
10. Câu hỏi: Về đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan chuyên môn tham mưu trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri phải chính xác, đúng thực tế, phải có cách giải quyết cụ thể với nội dung cử tri kiến nghị (cử tri xã Phú Linh, huyện Vị Xuyên)
11. Câu hỏi: Về việc cử tri tiếp tục đề nghị tỉnh ưu tiên kéo điện cho các thôn bản còn lại trong toàn tỉnh (cử tri các huyện Xín Mần, Hoàng Su Phì, Đồng Văn, Bắc Quang, Quang Bình).
12. Câu hỏi: Về đề nghị ưu tiên thi công mở rộng, nâng cấp một số tuyến đường giao thông trên địa bàn các huyện Xín Mần, Hoàng Su Phì, Đồng Văn, Bắc Quang, Quang Bình (Cử tri các huyện Xín Mần, Hoàng Su Phì, Đồng Văn, Bắc Quang, Quang Bình)
13. Câu hỏi: Về đề nghị tỉnh xem xét, cấp bổ sung kinh phí đền bù, giải phóng mặt bằng (ĐBGPMB) còn thiếu là 15 tỷ (cử tri huyện Quang Bình)
14. Câu hỏi: Về đề nghị tỉnh xem xét cho UBND huyện Quang Bình thực hiện cơ chế “đất đổi đất” để tạo quỹ đất tái định cư, huyện kêu gọi doanh nghiệp vào san ủi mặt bằng và trả một phần diện tích đất cho doanh nghiệp (cử tri huyện Quang Bình)
15. Câu hỏi: Về tình hình giải quyết đề nghị của ông Cứ Chúa Hạ, sinh năm 1980, dân tộc Mông, trú tại thôn Đầu Cầu Một, xã Cán Tỷ, huyện Quản Bạ tại văn bản số 04/Đ.ĐBQH14 VP ngày 16/8/2016 của Đoàn ĐBQH khóa XIV tỉnh Hà Giang.
Trả lời:
1. Hiện nay, việc cấp đổi giấy phép lái xe mô tô 2 bánh đang được Sở Giao thông vận tải đang phối hợp với UBND các huyện triển khai tiếp nhận hồ sơ trực tiếp tại địa bàn các huyện, đồng thời phối hợp với Bưu điện tỉnh Hà Giang chuyển phát hồ sơ, giấy phép lái xe đến tận tay người dân.
          Sau khi hoàn thiện thủ tục đổi Giấy phép lái xe, người dân có thể lựa chọn một trong hai hình thức để nhận kết quả:
          - Một là nhận trực tiếp tại Bộ phận giao dịch một cửa thuộc Sở Giao thông Vận tải (địa chỉ 380, đường Nguyễn Trãi, TP Hà Giang) và nộp lệ phí cấp, đổi giấy phép lái xe là 135.000 đồng theo quy định tại khoản 1, điều 1 Thông tư 73/2012/TT-BTC.
          - Hai là nhận tận tay (theo địa chỉ đăng ký) thông qua sử dụng dịch vụ chuyển phát nhanh qua Bưu điện và phải nộp thêm 1 khoản phí cho bưu điện là 55.000 đồng/cái, nên tổng phí phải nộp bằng 135.000 + 55.000 = 190.000 đồng.
          Do đó việc thu phí như trên là đúng quy định. Dịch vụ chuyển phát nhanh qua Bưu điện được bổ sung là để tạo thuận lợi và tăng thêm lựa chọn người dân.

2. Theo quy định tại Nghị quyết 42/2010/NQ-HĐND ngày 11/12/2010 của HĐND tỉnh về việc quy định mức trợ cấp ngày công lao động, mức hỗ trợ tiền ăn cho dân quân và phụ cấp Thôn đội trưởng trên địa bàn tỉnh Hà Giang, cán bộ chiến sỹ dân quân khi được huy động làm nhiệm vụ huấn luyện và diễn tập được trợ cấp ngày công lao động bằng 0,008% mức lương tối thiểu chung/ngày/người; trường hợp huy động làm nhiệm vụ cách xa nơi cư trú, không có điều kiện đi, về trong ngày được hỗ trợ tiền ăn bằng mức tiền ăn cơ bản của chiến sỹ bộ binh phục vụ có thời hạn trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
          Theo quy định của Luật dân quân tự vệ và Nghị định số 58/2010/NĐ-CP kinh phí thực hiện nhiệm vụ huấn luyện dân quân tự vệ được bố trí từ các nguồn: Ngân sách nhà nước, Quỹ quốc phòng an ninh, Nguồn thu hợp pháp khác.
          Đối với nguồn ngân sách nhà nước, Căn cứ định mức phân bổ của Trung ương, UBND tỉnh đã tham mưu cho HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 38/2010/NĐ-HĐND về định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách địa phương năm 2011, áp dụng cho thời kỳ ổn định ngân sách giai đoạn 2011 – 2016 với định mức hỗ trợ huấn luyện dân quân hàng năm là 10 triệu đồng/xã/năm.
          Trong quá trình thực hiện, tiếp thu ý kiến, kiến nghị của cử tri phản ánh định mức hỗ trợ cho lực lượng dân quân tự vệ nêu trên còn quá thấp, đề nghị bổ sung, UBND tỉnh căn cứ vào khả năng cân đối ngân sách, lần lượt tham mưu cho HĐND tỉnh quyết định hỗ trợ thêm ngoài định mức, cụ thể tổng định mức năm 2012 là 20 triệu đồng/xã, năm 2013, 2014 là 25 triệu đồng/xã, năm 2015 là 30 triệu đồng/xã, năm 2016 là 35 triệu đồng/xã.
          Để đàm bảo đủ kinh phí huấn luyện dân quân tự vệ (bao gồm kinh phí hỗ trợ ngày công lao động và tiền ăn), ngoài nguồn kinh phí bố trí từ ngân sách nhà nước theo định mức nêu trên, các huyện, xã phải sử dụng nguồn thu Quỹ Quốc phòng – an ninh; đồng thời UBND cấp huyện phải căn cứ vào số lượng dân quân của từng xã để phân bổ kinh phí huấn luyện cho phù hợp (Đối với Quỹ an ninh – quốc phòng, huyện được điều hòa nguồn thu Quỹ an ninh – Quốc phòng giữa các xã để đảm bảo nhiệm vụ theo quy định tại Quyết định số 2782/2011/QĐ-UBND ngày 15/12/2011 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng Quỹ An ninh – Quốc phòng trên địa bàn tỉnh).
          Giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri, UBND tỉnh giao UBND các huyện Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc chỉ đạo các xã sử dụng kinh phí huấn luyện và nguồn thu từ Quỹ An ninh – Quốc phòng cân đối, chi trả chế độ hỗ trợ cho các đối tượng tham gia huấn luyện dân quân tự vệ nâm 2016 theo đúng mức hỗ trợ quy định tại Nghị quyết 42/2010/NQ-HĐND ngày 11/12/2010 của HĐND tỉnh.
          Ngoài ra, sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên của NSNN năm 2017, UBND tỉnh sẽ tham mưu, trình HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết về định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên của ngân sách địa phương mới áp dụng cho thời kỳ ổn định NSĐP giai đoạn 2017 – 2020 tại Kỳ họp thứ Ba HDND tỉnh khóa XVII. Trong đó, sẽ trình HĐND tỉnh xem xét nâng định mức phân bổ đối với nhiệm vụ chi huấn luyện dân quân tự vệ, đảm bảo nguồn kinh phí thực hiện nhiệm vụ, huấn luyện.

3. Đội ngũ cán bộ làm công tác thú y cấp xã có vai trò quan trọng trong công tác giám sát và phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm. Hàng năm, Chi cục thú y tỉnh đều có kế hoạch tập huấn cho đội ngũ này, kết quả trong 3 năm (2014 – 2016) đã mở 14 lớp đào tạo cho 618 lượt học viên.
          Ngày 05/8/2016, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành Thông tư số 29/2016/TT-BNNPTNT quy định tiêu chuẩn đối với nhân viên thú y xã, phường, thị trấn. Trong thời gian tới, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn sẽ chủ trì, phối hợp với UBND các huyện, thành phố tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá nhân viên thú y xã để đảm bảo tiêu chuẩn về trình độ đào tạo quy định tại khoản 1 Điều 3 Thông tư nêu trên.
          Đối với đề nghị nâng mức phụ cấp đối với cán bộ làm công tác thú y xã. Hiện nay cán bộ làm công tác thú y cấp xã, thôn và tổ dân phố hưởng theo chế độ quy định tại Nghị quyết số 02/2010/NQ-HĐND ngày 20/4/2010 và Nghị quyết số 27/2010/NQ-HĐND ngày 9/12/2011 của HĐND tỉnh, cụ thể:
          - Cấp xã: Trưởng ban thú y, kiểm dịch động vật hưởng mức phụ cấp 1,0 mức lương tối thiểu/tháng.
          - Cấp thôn, tổ dân phố: Nhân viên khuyến nông, khuyến lâm, thú y hưởng mức khoán kinh phí hoạt động 0,4 mức lương tối thiểu/tháng.
          Để từng bước nâng mức phụ cấp, thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội đối với những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn và tổ dân phố, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch 209/KH-UBND ngày 12/12/2014 thực hiện thí điểm về số lượng, chức danh, mức phụ cấp đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
          Trên cơ sở kết quả thực hiện Kế hoạch số 209/KH-UBND ngày 12/12/2014, UBND tỉnh sẽ tham mưu, trình HĐND xem xét, ban hành nghị quyết quy định về chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách (trong đó có mức phụ cấp cử tri kiến nghị) trên phạm vi toàn tỉnh thay thế cho các quy định đang áp dụng hiện nay. Mức phụ cấp cụ thể sẽ do HĐND tỉnh xem xét, quyết định.

4. Việc thực hiện chế độ thù lao đối với các tổ chức hội có tính chất đặc thù trên địa bàn tỉnh đã và đang được quan tâm, triển khai thực hiện theo đúng quy định hiện hành, cụ thể:
          - Đối với cán bộ giữ chức danh lãnh đạo chuyên trách của tổ chức hội là người đã nghỉ hưu: được hưởng chế độ thù lao theo quy định tại Nghị quyết số 59/2012/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Hà Giang.
          - Trường hợp không phải là cán bộ về hưu, không phải là cán bộ, công chức, viên chức trong biên chế thì được vận dụng Nghị quyết số 59/2012/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Hà Giang theo hướng dẫn tại Công văn số 3827/UBND-NC ngày 18/2/2012 của UBND tỉnh.
          - Đối với các trường hợp khác (nếu có): lương, phụ cấp chi trả cho cán bộ hội do Ban lãnh đạo hội quyết định và tự cân đối kinh phí.
          Hiện nay, huyện Quang Bình có 6 tổ chức hội đặc thù cấp huyện, không có hội đặc thù cấp xã. Các tổ chức hội đặc thù được chi trả chế độ theo quy định hiện hành nêu trên.

5. Trên địa bàn huyện Vị Xuyên, số hộ gia đình có công với cách mạng được hỗ trợ xây dựng mới và sửa chữa nhà ở theo Đề án điều chỉnh được UBND tỉnh phê duyệt là 154 hộ, trong đó: làm mới 91 hộ, sửa chữa 63 hộ. Tổng kinh phí hỗ trợ đã cấp cho huyện Vị Xuyên là 3.080 tr.đ/4.900 triệu đồng đạt 62,8% so với Đề án.
          Nguồn kinh phí hỗ trợ thực hiện chính sách cho người có công với cách mạng về nhà ở theo quy định tại Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg do ngân sách Trung ương đảm bảo nhưng đến nay Trung ương chưa bổ sung đủ kinh phí theo đề án đã được UBND tỉnh phê duyệt (mới cấp 3.600 triệu đồng, còn thiếu 26.560 triệu đồng).
          Để có nguồn kinh phí thực hiện Đề án hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở, UBND tỉnh sẽ tiếp tục đề xuất kiến nghị Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan xem xét cấp bổ sung kinh phí để tỉnh tiếp tục triển khai thực hiện Đề án theo quy định.
 
6. Hiện nay UBND tỉnh đang tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết số 05-NQ-TU ngày 15/4/2016 về phát triển kinh tế động lực tỉnh Hà Giang giai đoạn 2016 – 2020 gồm các huyện Vị Xuyên, Bắc Quang, Quang Bình, Bắc Mê và thành phố Hà Giang. Về cơ chế, chính sách riêng đối với từng huyện, thành phố, UBND tỉnh đã nhất trí và giao cho các huyện, thành phố nghiên cứu đề xuất. Theo đó, UBND huyện Vị Xuyên có trách nhiệm tiếp thu ý kiến cử tri, nghiên cứu đưa vào đề xuất chung của huyện để báo cáo Tỉnh ủy, UBND tỉnh xem xét, quyết định.

7. Chính sách đưa học sinh tại các điểm trường về trường chính hiện đang được triển khai theo Đề án chuyển học sinh tiểu học từ các điểm trường về học trường chính trên địa bàn tỉnh Hà Giang phê duyệt tại Quyết định số 84/QĐ-UBND ngày 15/1/2015 của UBND tỉnh.
          Về chủ trương triển khai thực hiện tại Thông báo số 157-TB/TU ngày 05//8/2016, Tỉnh ủy đã chỉ đạo: “Tiếp tục thực hiện việc dồn điểm trường về trường chính ở nơi có điều kiện nhưng phải đảm bảo nâng cao chất lượng dạy và học, cũng như điều kiện sinh hoạt của các em học sinh (không nhất thiết nơi nào cũng dồn điểm trường).
          Việc tổ chức thực hiện, theo Đề án được duyệt, UBND các huyện, thành phố có trách nhiệm xây dựng kế hoạch hàng năm để thực hiện. Nguồn lực để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ các trường chính huy động chủ yếu từ nguồn ngân sách huyện và xã hội hóa.
          Căn cứ nội dung trên, UBND tỉnh giao UBND các huyện, thành phố tiếp thu ý kiến cử tri và tổ chức rà soát hiện trạng, xác định các nơi dồn điểm trường về trường chính phải đảm bảo yêu cầu nâng cao chất lượng dạy và học, cũng như điều kiện sinh hoạt của các em học sinh, khả thi về nguồn lực, để huy động, bố trí vốn ưu tiên thực hiện.

8. Quyền tham gia ý kiến và giám sát hoạt động quy hoạch, đầu tư xây dựng được quy định rõ Luật và các văn bản quy phạm pháp luật và đang được UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ngành, đơn vị nghiêm túc triển khai thực hiện.
          Tiếp thu ý kiến của cử tri, trong thời gian tới, UBND tỉnh sẽ tiếp tục quan tâm chỉ đạo để tăng cường sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý nhà nước và nhất là lĩnh vực quy hoạch và đầu tư xây dựng một cách chủ động, thiết thực và hiệu quả.

9. Về đề nghị này, UBND tỉnh xin tiếp thu ý kiến trên và sẽ đề xuất HĐND tỉnh xem xét thực hiện bắt đầu từ Kỳ họp thứ Ba HĐND tỉnh khóa XVII.
 
10. UBND tỉnh xác định công tác giải quyết, trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri là nhiệm vụ quan trọng cần tập trung, nghiêm túc thực hiện. Tiếp thu ý kiến của cử tri xã Phú Linh, huyện Vị Xuyên, UBND tỉnh tiếp tục tăng cường chỉ đạo, giám sát các cơ quan chuyên môn đối với ý kiến, kiến nghị của cử tri phải có giải pháp rõ ràng và hành động thiết thực, hiệu quả để giải quyết dứt điểm, không để tình trạng bức xúc, khó khăn kéo dài.

11. Thời gian qua, việc cấp điện cho nhân dân các thôn bản chưa được sử dụng điện lưới quốc gia trên địa bàn tỉnh quan tâm chỉ đạo và đạt nhiều kết quả thiết thực. Dự án cấp điện vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc chưa có điện lưới quốc gia tỉnh Hà Giang giai đoạn I (2014 – 2015) dự kiến sẽ đóng điện, hoàn thành cấp điện mới 3.558 hộ dân.
          Để tiếp tục đầu tư cấp điện cho nhân dân các thôn bản chưa được sử dụng điện lưới quốc gia trên địa bàn tỉnh, kế hoạch đầu tư trong các năm tiếp đã được lập trên cơ sở phù hợp với nhu cầu, ưu tiên đầu tư và nguồn vốn trung hạn của trung ương cấp. Trong đó, đến năm 2020 cấp điện mới cho 33 thôn, 2.294 hộ dân huyện Bắc Quang; 44 thôn, 1.631 hộ dân huyện Quang Bình; 73 thôn, 3.983 hộ dân huyện Hoàng Su Phì; 29 thôn, 1.750 hộ dân huyện Xín Mần; 22 thôn, 1.269 hộ dân huyện Đồng Văn. Riêng giai đoạn 2017 – 2018, cấp điện mới cho 5 thôn, 326 hộ dân huyện Bắc Quang; 11 thôn, 550 hộ dân huyện Quang Bình; 13 thôn, 705 hộ dân huyện Hoàng Su Phì; 10 thôn, 544 hộ dân huyện Xín Mần; 7 thôn, 421 hộ dân huyện Đồng Văn.

12. - Đối với tuyến đường từ Tân Quang (Bắc Quang) đi huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần. Gồm đoạn Tân Quang – Km55 thuộc Đường tỉnh 177 và đoạn Hoàng Su Phì – Xín Mần thuộc Quốc lộ 4.
          UBND tỉnh đã đề nghị với Bộ Giao thông vận tải, Chính phủ hỗ trợ và triển khai thực hiện dự án. Bộ giao thông vận tải đã có văn bản số 9451/BGTVT-KHĐT ngày 16/8/2016 nhất trí với đề nghị của tỉnh: đưa dự án quốc lộ 4 nối Hà Giang – Lào Cai vào kế hoạch trung hạn 2016 – 2020 trình Chính phủ và đề nghị Văn phòng Chính phủ tổng hợp, trình Thủ tướng Chính phủ hỗ trợ vốn cho tỉnh đầu tư xây dựng tuyến đường Tỉnh lộ 177.
          - Tuyến đường Quốc lộ 279 được phê duyệt tại Quyết định số 1594/QĐ-BGTVT ngày 9/6/2010 với tổng mức đầu tư 727,5 tỷ đồng. Do nguồn vốn phân bổ hàng năm cho Bộ giao thông Vận tải hết sức khó khăn nên đến nay mới bố trí được 156,1 tỷ đồng, bằng 21% tổng mức đầu tư. UBND tỉnh sẽ tiếp tục đề nghị các Bộ, ngành Trung ương quan tâm, sớm bố trí vốn để đầu tư, thực hiện.
          - Các tuyến đường huyện gồm: tuyến đường nội thị của thị trấn Cốc Pài; tuyến đường liên tỉnh Nà Chì (Xín Mần) – Bản Liền (Lào Cai); tuyến đường từ xã Sủng Trái đi xã Vần Chải huyện Đồng Văn; đường vào khu di tích Trọng Con, thôn Thác, xã Bằng Hành, huyện Bắc Quang; xây dựng cầu cứng trên tuyến đường Nà Chì – Quảng Nguyên. Tiếp thu ý kiến cử tri, UBND tỉnh giao UBND các huyện Xín Mần, Bắc Quang, Quang Bình, Đồng Văn có trách nhiệm rà soát và gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư xem xét, bổ sung vào Kế hoạch trung hạn 2016 – 2020 theo quy định của Luật Đầu tư công.

13. Hiện nay, huyện Quang Bình còn nhiều dự án đầu tư được UBND tỉnh phê duyệt đầu tư từ năm 2005 nhưng đến nay chưa được phê duyệt dự toán chi phí đền bù giải phóng mặt bằng. Để có cơ sở xem xét cấp kinh phí, UBND huyện Quang Bình có trách nhiệm khẩn trương phê duyệt dự toán kinh phí ĐBGPMB.
          Đối với các dự án đã được phe duyệt dự toán chi phí BTGPMB trong dự án đầu tư: Sau khi được tỉnh bố trí kế hoạch vốn đầu tư, UBND huyện có trách nhiệm tập trung bố trí thanh toán vốn cho công tác ĐBGPMB.
          Đối với dự án san ủi mặt bằng khu dân cư chưa được phê duyệt trong dự án, UBND huyện sử dụng nguồn thu tiền sử dụng đất để chi trả, do san ủi để mặt bằng sạch thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất.
          Đối với dự án do UBND huyện quyết định đầu tư: huyện cân đối nguồn ngân sách huyện để bố trí công tác chi trả cho công tác ĐBGPMB.
          Trong khi chờ thẩm định quyết toán, phê duyệt dự toán chi phí ĐBGPMB, Ban cán sự Đảng đã giao UBND tỉnh trình các cấp có thẩm quyền cấp ứng từ ngân sách tỉnh với số tiền 1,5 tỷ đồng để thanh toán cho huyện đối với chi phí ĐBGPMB không phê duyệt trong dự án đầu tư do UBND tỉnh quyết định đầu tư.

14. Việc thanh toán bằng quỹ đất cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án hạ tầng khu tái định cư trên địa bàn thị trấn Yên Bình đã được Chủ tịch UBND tỉnh cho chủ trương tại Thông báo Kết luận số 139/TB-KL ngày 19/7/2016 tại buổi làm việc với lãnh đạo huyện Quang Bình và đã giao cho UBND huyện Quang Bình thực hiện theo quy định tại Quyết định số 23/2015/QĐ-TTg ngày 26/6/2015 của Thủ tướng Chính phủ.

15. Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh đã tiếp tục chỉ đạo cho Phòng chống Ma túy và tội phạm; Đồn biên phòng Nghĩa Thuận tích cực trao đổi với Trạm kiểm soát Biên cảnh Bát Bố/Trung Quốc đề nghị điều tra, giải cứu.
          Kết quả, vào hồi 14h00 ngày 22/9/2016, Trạm KSBC Bát Bố và Công an huyện Ma ly Pho/Trung Quốc đã giải cứu và trao trả cho Đồn Biên phòng Nghĩa Thuận, Công an huyện Quản Bạ, gồm: Sùng Thị Dính, sinh năm 2981, dân tộc Mông, trú tại thôn Đầu Cầu I, xã Cán Tỷ, huyện Quản Bạ và 4 con gái của Dính.
          Sau khi tiếp nhận, đơn vị đã tiến hành lấy lời khai, hoàn chỉnh các thủ tục hồ sơ, bàn giao Dính cùng 4 người con cho Công an huyện Quản Bạ, chính quyền xã Cán tỷ và chồng của Dính (ông Cứ Chúa Hạ).      
 
Lên phía trên
Kết quả giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri theo đề nghị của Đoàn ĐBQH tỉnh theo BC 27
Câu hỏi:
1. Đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo các ngành chức năng sớm giải quyết dứt điểm việc đền bù giải phóng mặt bằng (cho 4 hộ dân số nhà 267, 269, 271, 273) do mở rộng đường Nguyễn Trãi từ năm 1995 đến nay chưa được đền bù (Cử tri Phường Nguyễn Trãi – Thành phố Hà Giang)

2. Đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo các ngành chức năng tiếp tục đẩy nhanh tiến độ kéo điện đến các thôn, bản vùng sâu, vùng xa và hỗ trợ xi măng để nhân dân làm đường bê tông, xây dựng nông thôn mới.

3. Đề nghị tỉnh quan tâm đầu tư kinh phí hoàn thành tuyến đường từ thị trấn Vị Xuyên đi các xã Linh Hồ, Ngọc Linh, Bạch Ngọc (được đầu tư làm từ năm 2008 đến nay vẫn chưa hoàn thành)

4. Đề nghị tỉnh cho rà soát và đánh giá lại toàn bộ diện tích rừng đã giao cho doanh nghiệp hoặc tổ chức kinh doanh, nếu không sử dụng đúng mục đích hoặc bỏ hoang thì thu hồi giao lại cho nhân dân quản lý (Cử tri huyện Vị Xuyên)

5. Đề nghị tỉnh bổ sung cơ chế, chính sách đặc thù và phân cấp mạnh cho cấp huyện để thu hút các nguồn lực cho đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững theo Nghị quyết số 05-NQ/TU của Tỉnh ủy về phát triển kinh tế vùng động lực tỉnh Hà Giang, giai đoạn 2016 – 2020 (Cử tri huyện Bắc Quang)

6. Công trình sân vận động và trường cấp III thị trấn Vĩnh Tuy, huyện Bắc Quang đã có quy hoạch từ năm 2006, nhân dân đã nhận được tiền đền bù giải phóng mặt bằng. Tuy nhiên đến nay các công trình này vẫn quy hoạch treo, chưa được khởi công xây dựng, đất để hoang hóa gây lãng phí; đề nghị UBND tỉnh sớm đầu tư khởi công xây dựng (Cử tri khu phố Tân Long, thị trấn Vĩnh Tuy, huyện Bắc Quang).

7. Đề nghị UBND tỉnh xem xét cho huyện Bắc Quang được tuyển đủ số giáo viên thay thế số giáo viên nghỉ hưu, nghỉ tinh giản biên chế theo Nghị định 108/2014/NĐ-CP của Chính phủ, để đảm bảo số giáo viên đứng lớp.

8. Đề nghị tỉnh cần quan tâm, tạo điều kiện về chính sách ưu đãi, tiếp cận nguồn vốn; tập huấn hướng dẫn phương pháp, cách thức sản xuất, kinh doanh để giúp thanh niên nông thôn khởi nghiệp, nhằm tạo công ăn việc làm tại chỗ cho thanh niên (cử tri tổ dân phố Phố Mới, TT Vĩnh Tuy, huyện Bắc Quang)
Trả lời:
1. UBND tỉnh đã giao UBND thành phố kiểm tra, xác minh. Kết quả kiểm tra hồ sơ bước đầu cho thấy nội dung kiến nghị đền bù, giải phóng mặt bằng thuộc Dự án Nâng cấp Quốc lộ 2 (Đoạn từ Km 287-288+900) do Sở Giao thông vận tải làm chủ đầu tư, hiện nay dự án đã quyết toán xong. Qua xem xét hồ sơ, 04 hộ dân tại số nhà 267, 269, 271, 273 đã có quyết định thu hồi đất tại Quyết định số 2068/QĐ-UB ngày 08/10/1999 của UBND tỉnh tuy nhiên không có tên của các hộ dân nêu trên trong quyết định phê duyệt dự toán đền bù.
          Căn cứ kết quả nêu trên, UBND tỉnh giao lại cho Sở Giao thông vận tải chủ trì phối hợp với UBND thành phố báo cáo rõ nội dung liên quan đến công tác đền bù giải phóng mặt bằng cho 04 hộ dân nêu trên, và có phương án giải quyết cụ thể trước ngày 15/2/2017.

2. Về việc cấp điện đến các thôn, bản: UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Công thương (chủ đầu tư) triển khai dự án điện nông thôn Hà Giang theo Quyết định số 2081/QĐ-TTg ngày 08/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình cấp điện nông thôn, miền núi và hải đảo giai đoạn 2013 – 2020; đồng thời phối hợp với Công ty Điện lực Hà Giang đề nghị Tổng công ty Điện lực Miền Bắc bố trí vốn ngành điện để cùng phối hợp đầu tư các thôn bản chưa có điện lưới quốc gia.
          Về việc hỗ trợ xi măng làm đường bê tông, xây dựng nông thôn mới: Thực hiện chủ trương của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, UBND tỉnh đang chỉ đạo các ngành, các cấp, đoàn thể, doanh nghiệp và nhân dân cùng tích cực thi đưa, chung sức tham gia thực hiện triển khai Đề án hỗ trợ một triệu tấn xi măng để đầu tư hạ tầng và xây dựng nông thôn mới.

3. Các dự án xây dựng tuyến đường từ thị trấn Vị Xuyên đi các xã Linh Hồ, Ngọc Linh, Bạch Ngọc đã được dự kiến trong Kế hoạch đầu tư công trung hạn nguồn vốn NSNN tỉnh giai đoạn 2016 – 2020 để triển khai thực hiện.

4. Ngày 27/10/2016 tại buổi làm việc với các doanh nghiệp, HTX trồng rừng đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư trên địa bàn tỉnh, UBND tỉnh đã chỉ đạo, giao các Sở, ngành chuyên môn tiến hành thanh tra các dự án đầu tư vào lĩnh vực trồng rừng, đề xuất biện pháp xử lý, báo cáo UBND tỉnh trong Quý I/2017.

5. Ngày 10/1/2017, UBND tỉnh đã ban hành Văn bản số 73/UBND-KT về việc triển khai nhiệm vụ phát triển Vùng kinh tế động lực năm 2017, trong đó giao cho các sở chuyên môn phối hợp với Văn phòng UBND tỉnh tham mưu cho UBND tỉnh tiếp tục xem xét, quyết định phân cấp, ủy quyền cho các huyện, thành phố Vùng động lực theo quy định. Đồng thời thường xuyên kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện thí điểm phân cấp, ủy quyền Vùng động lực.

6. Hiện nay nguồn vốn đầu tư rất khó khăn, chủ yếu tập trung giải quyết nợ đọng xây dựng cơ bản. UBND tỉnh đã giao Sở kế hoạch và Đầu tư tổng hợp dự án trên vào nhu cầu đầu tư để xem xét triển khai thực hiện khi đảm bảo các điều kiện về nguồn vốn.

7. Việc tuyển mới cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh đều phải tuân thủ đúng quy định tại Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; Chương trình số 15-CTr/TU ngày 19/4/2016 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Giang về việc thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW; Kế hoạch số 155/KH-UBND ngày 05/7/2016 của UBND tỉnh Hà Giang về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Hà Giang từ năm 2016 đến năm 2021, cụ thể: Tuyển dụng mới không quá 50% số cán bộ, công chức, viên chức đã ra khỏi biên chế sau khi thực hiện tinh giản và không quá 50% số biên chế cán bộ, công chức, viên chức đã giải quyết chế độ nghỉ hưu hoặc thôi việc.

8. UBND tỉnh đang chỉ đạo các ngành, các cấp, doanh nghiệp và các tổ chức đoàn thể tập trung triển khai Chương trình số 302/CTr-UBND ngày 05/12/2016 về tiếp sức khởi nghiệp tỉnh Hà Giang, giai đoạn 2016 – 2020 để hỗ trợ thanh niên lập nghiệp, khởi sự doanh nghiệp với các mục tiêu, nhiệm vụ rất cụ thể về phát triển các doanh nghiệp mới trong thanh niên, tư vấn giới thiệu việc làm, tập huấn khởi nghiệp, hỗ trợ vay vốn khởi nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh.
Lên phía trên
Kết quả giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri theo đề nghị của Đoàn ĐBQH tỉnh
Câu hỏi:
1. Câu hỏi: Đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo các ngành chức năng sớm giải quyết dứt điểm việc đền bù giải phóng mặt bằng (cho 4 hộ dân số nhà 267, 269, 271, 273) do mở rộng đường Nguyễn Trãi từ năm 1995 đến nay chưa được đền bù (Cử tri Phường Nguyễn Trãi – Thành phố Hà Giang)

2. Câu hỏi: Đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo các ngành chức năng tiếp tục đẩy nhanh tiến độ kéo điện đến các thôn, bản vùng sâu, vùng xa và hỗ trợ xi măng để nhân dân làm đường bê tông, xây dựng nông thôn mới.

3. Câu hỏi: Đề nghị tỉnh quan tâm đầu tư kinh phí hoàn thành tuyến đường từ thị trấn Vị Xuyên đi các xã Linh Hồ, Ngọc Linh, Bạch Ngọc (được đầu tư làm từ năm 2008 đến nay vẫn chưa hoàn thành)

4. Câu hỏi: Đề nghị tỉnh cho rà soát và đánh giá lại toàn bộ diện tích rừng đã giao cho doanh nghiệp hoặc tổ chức kinh doanh, nếu không sử dụng đúng mục đích hoặc bỏ hoang thì thu hồi giao lại cho nhân dân quản lý (Cử tri huyện Vị Xuyên)

5. Câu hỏi: Đề nghị tỉnh bổ sung cơ chế, chính sách đặc thù và phân cấp mạnh cho cấp huyện để thu hút các nguồn lực cho đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững theo Nghị quyết số 05-NQ/TU của Tỉnh ủy về phát triển kinh tế vùng động lực tỉnh Hà Giang, giai đoạn 2016 – 2020 (Cử tri huyện Bắc Quang)

6. Câu hỏi: Công trình sân vận động và trường cấp III thị trấn Vĩnh Tuy, huyện Bắc Quang đã có quy hoạch từ năm 2006, nhân dân đã nhận được tiền đền bù giải phóng mặt bằng. Tuy nhiên đến nay các công trình này vẫn quy hoạch treo, chưa được khởi công xây dựng, đất để hoang hóa gây lãng phí; đề nghị UBND tỉnh sớm đầu tư khởi công xây dựng (Cử tri khu phố Tân Long, thị trấn Vĩnh Tuy, huyện Bắc Quang).

7. Câu hỏi: Đề nghị UBND tỉnh xem xét cho huyện Bắc Quang được tuyển đủ số giáo viên thay thế số giáo viên nghỉ hưu, nghỉ tinh giản biên chế theo Nghị định 108/2014/NĐ-CP của Chính phủ, để đảm bảo số giáo viên đứng lớp.

8. Câu hỏi: Đề nghị tỉnh cần quan tâm, tạo điều kiện về chính sách ưu đãi, tiếp cận nguồn vốn; tập huấn hướng dẫn phương pháp, cách thức sản xuất, kinh doanh để giúp thanh niên nông thôn khởi nghiệp, nhằm tạo công ăn việc làm tại chỗ cho thanh niên (cử tri tổ dân phố Phố Mới, TT Vĩnh Tuy, huyện Bắc Quang)

9. Câu hỏi: Về phản ánh của cử tri việc thu lệ phí cấp giấy phép lái xe mô tô 2 bánh với mức 190.000 là sai, đề nghị thu đúng theo quy định tại Thông tư 73/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính là 135.000 đồng (Cử tri huyện Quản Bạ)

10. Câu hỏi: Về đề nghị bố trí đủ nguồn kinh phí cấp đủ cho các đối tượng tham gia huấn luyện dân quân tự vệ theo quy định (hiện nay lực lượng dân quân tự vệ khi tham gia huấn luyện mới chỉ được hỗ trợ tiền ăn, chưa được trợ cấp ngày công lao động (cử tri các huyện Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc).

11. Câu hỏi: Về đề nghị tỉnh quan tâm và có cơ chế đào tạo, bồi dưỡng tập huấn nghiệp vụ chuyên môn và nâng mức phụ cấp đối với cán bộ làm công tác thú y xã (cử tri huyện Yên Minh)

12. Câu hỏi: Về đề nghị tỉnh xem xét chi trả chế độ thù lao cho các Hội đặc thù theo Quyết định số 68 của Chính phủ cho các hội đặc thù cấp huyện, xã (cử tri huyện Quang Bình).

13. Câu hỏi: Về đề nghị UBND tỉnh tiếp tục quan tâm phân bổ kinh phí cho các huyện hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở (cử tri xã Phú Linh, huyện Vị Xuyên)

14. Câu hỏi: Về đề nghị UBND tỉnh có cơ chế, chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội cho 6 xã của huyện Vị Xuyên gồm: Kim thạch, Kim Linh, Phú Linh, Linh Hồ, Bạch Ngọc, Ngọc Linh. Vì 6 xã này có nhiều cống hiến và đóng góp cho cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc 1984 – 1989 (cử tri xã Phú linh huyện Vị Xuyên)

15. Câu hỏi: Về đề nghị tỉnh quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho các trường học trên địa bàn các huyện để thực hiện chủ trương đưa học sinh tại các điểm trường về trường chính (cử tri huyện Hoàng Su Phì)

16. Câu hỏi: Về đề nghị UBND tỉnh cần tuyên truyền, phổ biến, tạo điều kiện cho người dân tham gia góp ý, có điều kiện giám sát tổ chức thực hiện, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong công tác quy hoạch, đầu tư (cử tri huyện Đồng Văn, Mèo Vạc)

17. Câu hỏi: Về đề nghị HĐND tỉnh xem xét, trình bày Báo cáo kết quả giải quyết ý kiến, kiến nghị cử tri của UBND tỉnh tại phiên truyền hình trực tiếp khai mạc kỳ họp HĐND tỉnh (cử tri xã Phú Linh, huyện Vị Xuyên).

18. Câu hỏi: Về đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan chuyên môn tham mưu trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri phải chính xác, đúng thực tế, phải có cách giải quyết cụ thể với nội dung cử tri kiến nghị (cử tri xã Phú Linh, huyện Vị Xuyên)

19. Câu hỏi: Về việc cử tri tiếp tục đề nghị tỉnh ưu tiên kéo điện cho các thôn bản còn lại trong toàn tỉnh (cử tri các huyện Xín Mần, Hoàng Su Phì, Đồng Văn, Bắc Quang, Quang Bình).

20. Câu hỏi: Về đề nghị ưu tiên thi công mở rộng, nâng cấp một số tuyến đường giao thông trên địa bàn các huyện Xín Mần, Hoàng Su Phì, Đồng Văn, Bắc Quang, Quang Bình (Cử tri các huyện Xín Mần, Hoàng Su Phì, Đồng Văn, Bắc Quang, Quang Bình)


21. Câu hỏi: Về đề nghị tỉnh xem xét, cấp bổ sung kinh phí đền bù, giải phóng mặt bằng (ĐBGPMB) còn thiếu là 15 tỷ (cử tri huyện Quang Bình)

22. Câu hỏi: Về đề nghị tỉnh xem xét cho UBND huyện Quang Bình thực hiện cơ chế “đất đổi đất” để tạo quỹ đất tái định cư, huyện kêu gọi doanh nghiệp vào san ủi mặt bằng và trả một phần diện tích đất cho doanh nghiệp (cử tri huyện Quang Bình)

23. Câu hỏi: Về tình hình giải quyết đề nghị của ông Cứ Chúa Hạ, sinh năm 1980, dân tộc Mông, trú tại thôn Đầu Cầu Một, xã Cán Tỷ, huyện Quản Bạ tại văn bản số 04/Đ.ĐBQH14 VP ngày 16/8/2016 của Đoàn ĐBQH khóa XIV tỉnh Hà Giang.
Trả lời:
1. Trả lời:
UBND tỉnh đã giao UBND thành phố kiểm tra, xác minh. Kết quả kiểm tra hồ sơ bước đầu cho thấy nội dung kiến nghị đền bù, giải phóng mặt bằng thuộc Dự án Nâng cấp Quốc lộ 2 (Đoạn từ Km 287-288+900) do Sở Giao thông vận tải làm chủ đầu tư, hiện nay dự án đã quyết toán xong. Qua xem xét hồ sơ, 04 hộ dân tại số nhà 267, 269, 271, 273 đã có quyết định thu hồi đất tại Quyết định số 2068/QĐ-UB ngày 08/10/1999 của UBND tỉnh tuy nhiên không có tên của các hộ dân nêu trên trong quyết định phê duyệt dự toán đền bù.
Căn cứ kết quả nêu trên, UBND tỉnh giao lại cho Sở Giao thông vận tải chủ trì phối hợp với UBND thành phố báo cáo rõ nội dung liên quan đến công tác đền bù giải phóng mặt bằng cho 04 hộ dân nêu trên, và có phương án giải quyết cụ thể trước ngày 15/2/2017.

2. Trả lời:
Về việc cấp điện đến các thôn, bản: UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Công thương (chủ đầu tư) triển khai dự án điện nông thôn Hà Giang theo Quyết định số 2081/QĐ-TTg ngày 08/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình cấp điện nông thôn, miền núi và hải đảo giai đoạn 2013 – 2020; đồng thời phối hợp với Công ty Điện lực Hà Giang đề nghị Tổng công ty Điện lực Miền Bắc bố trí vốn ngành điện để cùng phối hợp đầu tư các thôn bản chưa có điện lưới quốc gia.
Về việc hỗ trợ xi măng làm đường bê tông, xây dựng nông thôn mới: Thực hiện chủ trương của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, UBND tỉnh đang chỉ đạo các ngành, các cấp, đoàn thể, doanh nghiệp và nhân dân cùng tích cực thi đưa, chung sức tham gia thực hiện triển khai Đề án hỗ trợ một triệu tấn xi măng để đầu tư hạ tầng và xây dựng nông thôn mới.

3. Trả lời:
Các dự án xây dựng tuyến đường từ thị trấn Vị Xuyên đi các xã Linh Hồ, Ngọc Linh, Bạch Ngọc đã được dự kiến trong Kế hoạch đầu tư công trung hạn nguồn vốn NSNN tỉnh giai đoạn 2016 – 2020 để triển khai thực hiện.

4. Trả lời:
Ngày 27/10/2016 tại buổi làm việc với các doanh nghiệp, HTX trồng rừng đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư trên địa bàn tỉnh, UBND tỉnh đã chỉ đạo, giao các Sở, ngành chuyên môn tiến hành thanh tra các dự án đầu tư vào lĩnh vực trồng rừng, đề xuất biện pháp xử lý, báo cáo UBND tỉnh trong Quý I/2017.

5.Trả lời:
Ngày 10/1/2017, UBND tỉnh đã ban hành Văn bản số 73/UBND-KT về việc triển khai nhiệm vụ phát triển Vùng kinh tế động lực năm 2017, trong đó giao cho các sở chuyên môn phối hợp với Văn phòng UBND tỉnh tham mưu cho UBND tỉnh tiếp tục xem xét, quyết định phân cấp, ủy quyền cho các huyện, thành phố Vùng động lực theo quy định. Đồng thời thường xuyên kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện thí điểm phân cấp, ủy quyền Vùng động lực.

6.Trả lời:
Hiện nay nguồn vốn đầu tư rất khó khăn, chủ yếu tập trung giải quyết nợ đọng xây dựng cơ bản. UBND tỉnh đã giao Sở kế hoạch và Đầu tư tổng hợp dự án trên vào nhu cầu đầu tư để xem xét triển khai thực hiện khi đảm bảo các điều kiện về nguồn vốn.

7.Trả lời:
Việc tuyển mới cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh đều phải tuân thủ đúng quy định tại Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; Chương trình số 15-CTr/TU ngày 19/4/2016 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Giang về việc thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW; Kế hoạch số 155/KH-UBND ngày 05/7/2016 của UBND tỉnh Hà Giang về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Hà Giang từ năm 2016 đến năm 2021, cụ thể: Tuyển dụng mới không quá 50% số cán bộ, công chức, viên chức đã ra khỏi biên chế sau khi thực hiện tinh giản và không quá 50% số biên chế cán bộ, công chức, viên chức đã giải quyết chế độ nghỉ hưu hoặc thôi việc.

8.Trả lời: UBND tỉnh đang chỉ đạo các ngành, các cấp, doanh nghiệp và các tổ chức đoàn thể tập trung triển khai Chương trình số 302/CTr-UBND ngày 05/12/2016 về tiếp sức khởi nghiệp tỉnh Hà Giang, giai đoạn 2016 – 2020 để hỗ trợ thanh niên lập nghiệp, khởi sự doanh nghiệp với các mục tiêu, nhiệm vụ rất cụ thể về phát triển các doanh nghiệp mới trong thanh niên, tư vấn giới thiệu việc làm, tập huấn khởi nghiệp, hỗ trợ vay vốn khởi nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh.

9. Trả lời:
Hiện nay, việc cấp đổi giấy phép lái xe mô tô 2 bánh đang được Sở Giao thông vận tải đang phối hợp với UBND các huyện triển khai tiếp nhận hồ sơ trực tiếp tại địa bàn các huyện, đồng thời phối hợp với Bưu điện tỉnh Hà Giang chuyển phát hồ sơ, giấy phép lái xe đến tận tay người dân.
Sau khi hoàn thiện thủ tục đổi Giấy phép lái xe, người dân có thể lựa chọn một trong hai hình thức để nhận kết quả:
 - Một là nhận trực tiếp tại Bộ phận giao dịch một cửa thuộc Sở Giao thông Vận tải (địa chỉ 380, đường Nguyễn Trãi, TP Hà Giang) và nộp lệ phí cấp, đổi giấy phép lái xe là 135.000 đồng theo quy định tại khoản 1, điều 1 Thông tư 73/2012/TT-BTC.
- Hai là nhận tận tay (theo địa chỉ đăng ký) thông qua sử dụng dịch vụ chuyển phát nhanh qua Bưu điện và phải nộp thêm 1 khoản phí cho bưu điện là 55.000 đồng/cái, nên tổng phí phải nộp bằng 135.000 + 55.000 = 190.000 đồng.
 Do đó việc thu phí như trên là đúng quy định. Dịch vụ chuyển phát nhanh qua Bưu điện được bổ sung là để tạo thuận lợi và tăng thêm lựa chọn người dân.

10.Trả lời:
Theo quy định tại Nghị quyết 42/2010/NQ-HĐND ngày 11/12/2010 của HĐND tỉnh về việc quy định mức trợ cấp ngày công lao động, mức hỗ trợ tiền ăn cho dân quân và phụ cấp Thôn đội trưởng trên địa bàn tỉnh Hà Giang, cán bộ chiến sỹ dân quân khi được huy động làm nhiệm vụ huấn luyện và diễn tập được trợ cấp ngày công lao động bằng 0,008% mức lương tối thiểu chung/ngày/người; trường hợp huy động làm nhiệm vụ cách xa nơi cư trú, không có điều kiện đi, về trong ngày được hỗ trợ tiền ăn bằng mức tiền ăn cơ bản của chiến sỹ bộ binh phục vụ có thời hạn trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
Theo quy định của Luật dân quân tự vệ và Nghị định số 58/2010/NĐ-CP kinh phí thực hiện nhiệm vụ huấn luyện dân quân tự vệ được bố trí từ các nguồn: Ngân sách nhà nước, Quỹ quốc phòng an ninh, Nguồn thu hợp pháp khác.
Đối với nguồn ngân sách nhà nước, Căn cứ định mức phân bổ của Trung ương, UBND tỉnh đã tham mưu cho HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 38/2010/NĐ-HĐND về định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách địa phương năm 2011, áp dụng cho thời kỳ ổn định ngân sách giai đoạn 2011 – 2016 với định mức hỗ trợ huấn luyện dân quân hàng năm là 10 triệu đồng/xã/năm.
Trong quá trình thực hiện, tiếp thu ý kiến, kiến nghị của cử tri phản ánh định mức hỗ trợ cho lực lượng dân quân tự vệ nêu trên còn quá thấp, đề nghị bổ sung, UBND tỉnh căn cứ vào khả năng cân đối ngân sách, lần lượt tham mưu cho HĐND tỉnh quyết định hỗ trợ thêm ngoài định mức, cụ thể tổng định mức năm 2012 là 20 triệu đồng/xã, năm 2013, 2014 là 25 triệu đồng/xã, năm 2015 là 30 triệu đồng/xã, năm 2016 là 35 triệu đồng/xã.
Để đàm bảo đủ kinh phí huấn luyện dân quân tự vệ (bao gồm kinh phí hỗ trợ ngày công lao động và tiền ăn), ngoài nguồn kinh phí bố trí từ ngân sách nhà nước theo định mức nêu trên, các huyện, xã phải sử dụng nguồn thu Quỹ Quốc phòng – an ninh; đồng thời UBND cấp huyện phải căn cứ vào số lượng dân quân của từng xã để phân bổ kinh phí huấn luyện cho phù hợp (Đối với Quỹ an ninh – quốc phòng, huyện được điều hòa nguồn thu Quỹ an ninh – Quốc phòng giữa các xã để đảm bảo nhiệm vụ theo quy định tại Quyết định số 2782/2011/QĐ-UBND ngày 15/12/2011 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng Quỹ An ninh – Quốc phòng trên địa bàn tỉnh).
Giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri, UBND tỉnh giao UBND các huyện Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc chỉ đạo các xã sử dụng kinh phí huấn luyện và nguồn thu từ Quỹ An ninh – Quốc phòng cân đối, chi trả chế độ hỗ trợ cho các đối tượng tham gia huấn luyện dân quân tự vệ nâm 2016 theo đúng mức hỗ trợ quy định tại Nghị quyết 42/2010/NQ-HĐND ngày 11/12/2010 của HĐND tỉnh.
Ngoài ra, sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên của NSNN năm 2017, UBND tỉnh sẽ tham mưu, trình HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết về định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên của ngân sách địa phương mới áp dụng cho thời kỳ ổn định NSĐP giai đoạn 2017 – 2020 tại Kỳ họp thứ Ba HDND tỉnh khóa XVII. Trong đó, sẽ trình HĐND tỉnh xem xét nâng định mức phân bổ đối với nhiệm vụ chi huấn luyện dân quân tự vệ, đảm bảo nguồn kinh phí thực hiện nhiệm vụ, huấn luyện.

11.Trả lời:
Đội ngũ cán bộ làm công tác thú y cấp xã có vai trò quan trọng trong công tác giám sát và phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm. Hàng năm, Chi cục thú y tỉnh đều có kế hoạch tập huấn cho đội ngũ này, kết quả trong 3 năm (2014 – 2016) đã mở 14 lớp đào tạo cho 618 lượt học viên.
Ngày 05/8/2016, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành Thông tư số 29/2016/TT-BNNPTNT quy định tiêu chuẩn đối với nhân viên thú y xã, phường, thị trấn. Trong thời gian tới, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn sẽ chủ trì, phối hợp với UBND các huyện, thành phố tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá nhân viên thú y xã để đảm bảo tiêu chuẩn về trình độ đào tạo quy định tại khoản 1 Điều 3 Thông tư nêu trên.
Đối với đề nghị nâng mức phụ cấp đối với cán bộ làm công tác thú y xã. Hiện nay cán bộ làm công tác thú y cấp xã, thôn và tổ dân phố hưởng theo chế độ quy định tại Nghị quyết số 02/2010/NQ-HĐND ngày 20/4/2010 và Nghị quyết số 27/2010/NQ-HĐND ngày 9/12/2011 của HĐND tỉnh, cụ thể:
- Cấp xã: Trưởng ban thú y, kiểm dịch động vật hưởng mức phụ cấp 1,0 mức lương tối thiểu/tháng.
- Cấp thôn, tổ dân phố: Nhân viên khuyến nông, khuyến lâm, thú y hưởng mức khoán kinh phí hoạt động 0,4 mức lương tối thiểu/tháng.
Để từng bước nâng mức phụ cấp, thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội đối với những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn và tổ dân phố, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch 209/KH-UBND ngày 12/12/2014 thực hiện thí điểm về số lượng, chức danh, mức phụ cấp đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
Trên cơ sở kết quả thực hiện Kế hoạch số 209/KH-UBND ngày 12/12/2014, UBND tỉnh sẽ tham mưu, trình HĐND xem xét, ban hành nghị quyết quy định về chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách (trong đó có mức phụ cấp cử tri kiến nghị) trên phạm vi toàn tỉnh thay thế cho các quy định đang áp dụng hiện nay. Mức phụ cấp cụ thể sẽ do HĐND tỉnh xem xét, quyết định.

12.Trả lời:
Việc thực hiện chế độ thù lao đối với các tổ chức hội có tính chất đặc thù trên địa bàn tỉnh đã và đang được quan tâm, triển khai thực hiện theo đúng quy định hiện hành, cụ thể:
 - Đối với cán bộ giữ chức danh lãnh đạo chuyên trách của tổ chức hội là người đã nghỉ hưu: được hưởng chế độ thù lao theo quy định tại Nghị quyết số 59/2012/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Hà Giang.
 - Trường hợp không phải là cán bộ về hưu, không phải là cán bộ, công chức, viên chức trong biên chế thì được vận dụng Nghị quyết số 59/2012/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Hà Giang theo hướng dẫn tại Công văn số 3827/UBND-NC ngày 18/2/2012 của UBND tỉnh.
- Đối với các trường hợp khác (nếu có): lương, phụ cấp chi trả cho cán bộ hội do Ban lãnh đạo hội quyết định và tự cân đối kinh phí.
Hiện nay, huyện Quang Bình có 6 tổ chức hội đặc thù cấp huyện, không có hội đặc thù cấp xã. Các tổ chức hội đặc thù được chi trả chế độ theo quy định hiện hành nêu trên.

13.Trả lời:
Trên địa bàn huyện Vị Xuyên, số hộ gia đình có công với cách mạng được hỗ trợ xây dựng mới và sửa chữa nhà ở theo Đề án điều chỉnh được UBND tỉnh phê duyệt là 154 hộ, trong đó: làm mới 91 hộ, sửa chữa 63 hộ. Tổng kinh phí hỗ trợ đã cấp cho huyện Vị Xuyên là 3.080 tr.đ/4.900 triệu đồng đạt 62,8% so với Đề án.
Nguồn kinh phí hỗ trợ thực hiện chính sách cho người có công với cách mạng về nhà ở theo quy định tại Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg do ngân sách Trung ương đảm bảo nhưng đến nay Trung ương chưa bổ sung đủ kinh phí theo đề án đã được UBND tỉnh phê duyệt (mới cấp 3.600 triệu đồng, còn thiếu 26.560 triệu đồng).
Để có nguồn kinh phí thực hiện Đề án hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở, UBND tỉnh sẽ tiếp tục đề xuất kiến nghị Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan xem xét cấp bổ sung kinh phí để tỉnh tiếp tục triển khai thực hiện Đề án theo quy định.

14.Trả lời:
Hiện nay UBND tỉnh đang tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết số 05-NQ-TU ngày 15/4/2016 về phát triển kinh tế động lực tỉnh Hà Giang giai đoạn 2016 – 2020 gồm các huyện Vị Xuyên, Bắc Quang, Quang Bình, Bắc Mê và thành phố Hà Giang. Về cơ chế, chính sách riêng đối với từng huyện, thành phố, UBND tỉnh đã nhất trí và giao cho các huyện, thành phố nghiên cứu đề xuất. Theo đó, UBND huyện Vị Xuyên có trách nhiệm tiếp thu ý kiến cử tri, nghiên cứu đưa vào đề xuất chung của huyện để báo cáo Tỉnh ủy, UBND tỉnh xem xét, quyết định.

15.Trả lời:
Chính sách đưa học sinh tại các điểm trường về trường chính hiện đang được triển khai theo Đề án chuyển học sinh tiểu học từ các điểm trường về học trường chính trên địa bàn tỉnh Hà Giang phê duyệt tại Quyết định số 84/QĐ-UBND ngày 15/1/2015 của UBND tỉnh.
Về chủ trương triển khai thực hiện tại Thông báo số 157-TB/TU ngày 05//8/2016, Tỉnh ủy đã chỉ đạo: “Tiếp tục thực hiện việc dồn điểm trường về trường chính ở nơi có điều kiện nhưng phải đảm bảo nâng cao chất lượng dạy và học, cũng như điều kiện sinh hoạt của các em học sinh (không nhất thiết nơi nào cũng dồn điểm trường).
Việc tổ chức thực hiện, theo Đề án được duyệt, UBND các huyện, thành phố có trách nhiệm xây dựng kế hoạch hàng năm để thực hiện. Nguồn lực để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ các trường chính huy động chủ yếu từ nguồn ngân sách huyện và xã hội hóa.
Căn cứ nội dung trên, UBND tỉnh giao UBND các huyện, thành phố tiếp thu ý kiến cử tri và tổ chức rà soát hiện trạng, xác định các nơi dồn điểm trường về trường chính phải đảm bảo yêu cầu nâng cao chất lượng dạy và học, cũng như điều kiện sinh hoạt của các em học sinh, khả thi về nguồn lực, để huy động, bố trí vốn ưu tiên thực hiện.

16.Trả lời:
Quyền tham gia ý kiến và giám sát hoạt động quy hoạch, đầu tư xây dựng được quy định rõ Luật và các văn bản quy phạm pháp luật và đang được UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ngành, đơn vị nghiêm túc triển khai thực hiện.
Tiếp thu ý kiến của cử tri, trong thời gian tới, UBND tỉnh sẽ tiếp tục quan tâm chỉ đạo để tăng cường sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý nhà nước và nhất là lĩnh vực quy hoạch và đầu tư xây dựng một cách chủ động, thiết thực và hiệu quả.

17.Trả lời:
Về đề nghị này, UBND tỉnh xin tiếp thu ý kiến trên và sẽ đề xuất HĐND tỉnh xem xét thực hiện bắt đầu từ Kỳ họp thứ Ba HĐND tỉnh khóa XVII.

18.Trả lời:
UBND tỉnh xác định công tác giải quyết, trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri là nhiệm vụ quan trọng cần tập trung, nghiêm túc thực hiện. Tiếp thu ý kiến của cử tri xã Phú Linh, huyện Vị Xuyên, UBND tỉnh tiếp tục tăng cường chỉ đạo, giám sát các cơ quan chuyên môn đối với ý kiến, kiến nghị của cử tri phải có giải pháp rõ ràng và hành động thiết thực, hiệu quả để giải quyết dứt điểm, không để tình trạng bức xúc, khó khăn kéo dài.

19.Trả lời:
Thời gian qua, việc cấp điện cho nhân dân các thôn bản chưa được sử dụng điện lưới quốc gia trên địa bàn tỉnh quan tâm chỉ đạo và đạt nhiều kết quả thiết thực. Dự án cấp điện vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc chưa có điện lưới quốc gia tỉnh Hà Giang giai đoạn I (2014 – 2015) dự kiến sẽ đóng điện, hoàn thành cấp điện mới 3.558 hộ dân.
Để tiếp tục đầu tư cấp điện cho nhân dân các thôn bản chưa được sử dụng điện lưới quốc gia trên địa bàn tỉnh, kế hoạch đầu tư trong các năm tiếp đã được lập trên cơ sở phù hợp với nhu cầu, ưu tiên đầu tư và nguồn vốn trung hạn của trung ương cấp. Trong đó, đến năm 2020 cấp điện mới cho 33 thôn, 2.294 hộ dân huyện Bắc Quang; 44 thôn, 1.631 hộ dân huyện Quang Bình; 73 thôn, 3.983 hộ dân huyện Hoàng Su Phì; 29 thôn, 1.750 hộ dân huyện Xín Mần; 22 thôn, 1.269 hộ dân huyện Đồng Văn. Riêng giai đoạn 2017 – 2018, cấp điện mới cho 5 thôn, 326 hộ dân huyện Bắc Quang; 11 thôn, 550 hộ dân huyện Quang Bình; 13 thôn, 705 hộ dân huyện Hoàng Su Phì; 10 thôn, 544 hộ dân huyện Xín Mần; 7 thôn, 421 hộ dân huyện Đồng Văn.

20.Trả lời:
Đối với tuyến đường từ Tân Quang (Bắc Quang) đi huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần. Gồm đoạn Tân Quang – Km55 thuộc Đường tỉnh 177 và đoạn Hoàng Su Phì – Xín Mần thuộc Quốc lộ 4.
UBND tỉnh đã đề nghị với Bộ Giao thông vận tải, Chính phủ hỗ trợ và triển khai thực hiện dự án. Bộ giao thông vận tải đã có văn bản số 9451/BGTVT-KHĐT ngày 16/8/2016 nhất trí với đề nghị của tỉnh: đưa dự án quốc lộ 4 nối Hà Giang – Lào Cai vào kế hoạch trung hạn 2016 – 2020 trình Chính phủ và đề nghị Văn phòng Chính phủ tổng hợp, trình Thủ tướng Chính phủ hỗ trợ vốn cho tỉnh đầu tư xây dựng tuyến đường Tỉnh lộ 177.
- Tuyến đường Quốc lộ 279 được phê duyệt tại Quyết định số 1594/QĐ-BGTVT ngày 9/6/2010 với tổng mức đầu tư 727,5 tỷ đồng. Do nguồn vốn phân bổ hàng năm cho Bộ giao thông Vận tải hết sức khó khăn nên đến nay mới bố trí được 156,1 tỷ đồng, bằng 21% tổng mức đầu tư. UBND tỉnh sẽ tiếp tục đề nghị các Bộ, ngành Trung ương quan tâm, sớm bố trí vốn để đầu tư, thực hiện.
- Các tuyến đường huyện gồm: tuyến đường nội thị của thị trấn Cốc Pài; tuyến đường liên tỉnh Nà Chì (Xín Mần) – Bản Liền (Lào Cai); tuyến đường từ xã Sủng Trái đi xã Vần Chải huyện Đồng Văn; đường vào khu di tích Trọng Con, thôn Thác, xã Bằng Hành, huyện Bắc Quang; xây dựng cầu cứng trên tuyến đường Nà Chì – Quảng Nguyên. Tiếp thu ý kiến cử tri, UBND tỉnh giao UBND các huyện Xín Mần, Bắc Quang, Quang Bình, Đồng Văn có trách nhiệm rà soát và gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư xem xét, bổ sung vào Kế hoạch trung hạn 2016 – 2020 theo quy định của Luật Đầu tư công.

21.Trả lời:
Hiện nay, huyện Quang Bình còn nhiều dự án đầu tư được UBND tỉnh phê duyệt đầu tư từ năm 2005 nhưng đến nay chưa được phê duyệt dự toán chi phí đền bù giải phóng mặt bằng. Để có cơ sở xem xét cấp kinh phí, UBND huyện Quang Bình có trách nhiệm khẩn trương phê duyệt dự toán kinh phí ĐBGPMB.
Đối với các dự án đã được phe duyệt dự toán chi phí BTGPMB trong dự án đầu tư: Sau khi được tỉnh bố trí kế hoạch vốn đầu tư, UBND huyện có trách nhiệm tập trung bố trí thanh toán vốn cho công tác ĐBGPMB.
Đối với dự án san ủi mặt bằng khu dân cư chưa được phê duyệt trong dự án, UBND huyện sử dụng nguồn thu tiền sử dụng đất để chi trả, do san ủi để mặt bằng sạch thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất.
Đối với dự án do UBND huyện quyết định đầu tư: huyện cân đối nguồn ngân sách huyện để bố trí công tác chi trả cho công tác ĐBGPMB.
Trong khi chờ thẩm định quyết toán, phê duyệt dự toán chi phí ĐBGPMB, Ban cán sự Đảng đã giao UBND tỉnh trình các cấp có thẩm quyền cấp ứng từ ngân sách tỉnh với số tiền 1,5 tỷ đồng để thanh toán cho huyện đối với chi phí ĐBGPMB không phê duyệt trong dự án đầu tư do UBND tỉnh quyết định đầu tư.

22.Trả lời:
Việc thanh toán bằng quỹ đất cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án hạ tầng khu tái định cư trên địa bàn thị trấn Yên Bình đã được Chủ tịch UBND tỉnh cho chủ trương tại Thông báo Kết luận số 139/TB-KL ngày 19/7/2016 tại buổi làm việc với lãnh đạo huyện Quang Bình và đã giao cho UBND huyện Quang Bình thực hiện theo quy định tại Quyết định số 23/2015/QĐ-TTg ngày 26/6/2015 của Thủ tướng Chính phủ.

23.Trả lời:
Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh đã tiếp tục chỉ đạo cho Phòng chống Ma túy và tội phạm; Đồn biên phòng Nghĩa Thuận tích cực trao đổi với Trạm kiểm soát Biên cảnh Bát Bố/Trung Quốc đề nghị điều tra, giải cứu.
Kết quả, vào hồi 14h00 ngày 22/9/2016, Trạm KSBC Bát Bố và Công an huyện Ma ly Pho/Trung Quốc đã giải cứu và trao trả cho Đồn Biên phòng Nghĩa Thuận, Công an huyện Quản Bạ, gồm: Sùng Thị Dính, sinh năm 2981, dân tộc Mông, trú tại thôn Đầu Cầu I, xã Cán Tỷ, huyện Quản Bạ và 4 con gái của Dính.
Sau khi tiếp nhận, đơn vị đã tiến hành lấy lời khai, hoàn chỉnh các thủ tục hồ sơ, bàn giao Dính cùng 4 người con cho Công an huyện Quản Bạ, chính quyền xã Cán tỷ và chồng của Dính (ông Cứ Chúa Hạ). /.
 
 

VIDEO HOẠT ĐỘNG

KIẾN NGHỊ CỬ TRI














 


  



ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG
Địa chỉ: Số 01 Đường Đội Cấn - Phường Nguyễn Trãi - Thành phố Hà Giang - Tỉnh Hà Giang
Số điện thoại: 02193.867.356 - Fax: 02193.860.778
Email: bbt.dbnd@hagiang.gov.vn