LƯỢT TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 39

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 37


Hôm nayHôm nay : 1970

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 26804

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2533829

LIÊN KẾT WEBSITE

ĐĂNG NHẬP

Lên phía trên
Trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri sau kỳ họp thứ 4 - Đoàn ĐBQH khóa XIII tỉnh Hà Giang (cử tri xã Yên Định, huyện Bắc Mê).
Câu hỏi:
Hiện nay chương trình giáo dục một số Trường tiểu học trong tỉnh có nhiều chương trình khác nhau: năm học 2011 - 2012 học chương trình công nghệ, năm học 2012 - 2013 học chương trình VNEN làm ảnh hưởng đến việc giảng dạy và học tập của giáo viên, học sinh, công tác kiểm tra chuyên môn cũng gặp không ít khó khăn. Đề nghị Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét thống nhất chỉ đạo thực hiện một chương trình giáo dục đối với một trường để đảm bảo việc nâng cao chất lượng dạy và học
Trả lời:
- Đối với tài liệu tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục (CGD) do GS.TSKH Hồ Ngọc Đại làm chủ biên. Những năm đầu của thế kỷ 21, tài liệu được đưa vào thử nghiệm cho đối tượng học sinh là dân tộc thiểu số của các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, trong đó có tỉnh Lào Cai triển khai thử nghiệm đạt kết quả tốt (theo tác giả không gọi là chương trình Công nghệ, gọi theo đúng nghĩa là “Tài liệu Công nghệ giáo dục dành cho học sinh lớp 1”.
Năm học 2010-2011, trước khi triển khai áp dụng Tài liệu lớp 1 Công nghệ giáo dục (CGD), Sở GD&ĐT Hà Giang thành lập đoàn công tác sang tỉnh Lào Cai (huyện Bảo Yên, Sa Pa) học hỏi kinh nghiệm về dạy và học tài liệu tiếng Việt lớp 1-CGD vào thời điểm tháng 5 năm 2010. Qua chuyến khảo sát thực tế tại tỉnh Lào Cai, đoàn công tác nhận thấy (học sinh lớp 1 cũng là dân tộc thiểu số) sau 35 tuần học theo tài liệu tiếng Việt lớp 1-CGD, học sinh đọc và viết chữ tương đương với học sinh lớp 2 của chương trình 175 tuần hiện hành; Chữ viết của học sinh lớp 1 năm học trước (2008-2009) học theo tài liệu lớp 1-CGD, sang năm học 2009-2010 học lên lớp 2, các em đọc và viết tương đương với học sinh lớp 3 của chương trình 175 tuần hiện hành.
Từ thực tế học sinh lớp 1 của tỉnh Hà Giang (phần lớn là dân tộc thiểu số, học lực từ trung bình trở lên hàng năm chỉ đạt từ 85 đến 90%, cá biệt có huyện tỷ lệ học sinh lớp 1 học yếu môn Tiếng việt chiếm từ: 15 đến 17%, nguyên nhân là các em trước khi vào học lớp 1 chương trình giáo dục phổ thông hiện hành chưa được học mẫu giáo nên không đọc được Bảng chữ cái…), UBND tỉnh đã cho phép Sở GD&ĐT triển khai thí điểm và mở rộng qui mô dạy học theo tài liệu Tiếng việt 1- CNGD trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
Năm học 2010-2011, Hà Giang áp dụng thử nghiệm 04 lớp 1 với 95 học sinh. So sánh với học sinh lớp 1 trong cùng một trường đang học theo sách giáo khoa của chương trình 175 tuần hiện hành thì học sinh học lớp 1 học theo tài liệu Công nghệ giáo dục thì học sinh học theo tài liệu lớp 1-CGD “đọc và viết’’ tốt hơn so với học sinh lớp 1 học theo chương trình hiện hành.
+ Năm học 2011-2012, tiếp tục triển khai tại 11 huyện, thành phố với: 80 trường với 138 lớp và 3008 học sinh.
+ Năm học 2012-2013, triển khai tại 11 huyện, thành phố với 130 trường với 997 lớp và 2977 học sinh.
- Đối với Dự án mô hình trường học mới (VNEN) do Bộ GD&ĐT làm chủ đầu tư được áp dụng triển khai tại 63 tỉnh, thành phố từ năm 2012 đến năm 2015, Dự án có sự hỗ trợ cho các trường về tập huấn cán bộ quản lý và giáo viên về phương pháp và kỹ thuật dạy học, cung cấp sách giáo khoa miễn phí và đầu tư trang thiết bị trong phòng học phục vụ cho dạy và học của giáo viên và học sinh.
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ Giáo dục và đào tạo tại văn bản số: 236/KH-BGDĐT, ngày 13/5/2010 về kế hoạch nghiên cứu triển khai vận dụng mô hình Trường học mới (VNEN) trong giáo dục Tiểu học tại các địa phương; Công văn số: 4983/BGDĐT-GDTH, ngày 27/7/2011 của Bộ GD&ĐT về việc hướng dẫn triển khai thí điểm dạy học theo mô hình trường học mới VNEN tại 6 tỉnh: Hà Giang, Lào Cai, Hoà Bình, Khánh Hoà, Đăk Lắk và Kon Tum).
Tài liệu dạy học theo mô hình trường học mới vẫn thực hiện theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo qui định về Chương trình giáo dục phổ thông (175 tuần) đang hiện hành trong toàn quốc. Từ chương trình và sách giáo khoa đang hiện hành, các Chuyên gia chuyển nguyên (nội dung, kiến thức) sang để thiết kế lại thành tài liệu (3 trong 1): Tài liệu vừa là sách giáo khoa, sách bài tập của học sinh vừa là sách giáo viên. Điểm cơ bản nhất là học theo tài liệu (SGK) của mô hình VNEN, học sinh phải tự đọc tài liệu để tìm hiểu bài và tự đưa ra kết quả học tập của cá nhân, giáo viên chỉ là người hướng dẫn, gợi ý, học sinh chủ yếu (tự học cá nhân và học theo nhóm). Khác với phương pháp dạy học truyền thống, dạy học theo sách giáo khoa VNEN, đòi hỏi giáo viên phải có năng lực sư phạm, kiến thức và thay đổi về “cách dạy và cách học”.
Năm học 2011-2012, tỉnh Hà Giang triển khai dạy thử nghiệm tại 04 trường thuộc huyện Vị Xuyên và thành phố Hà Giang với 8 lớp và 196 học sinh. Trong năm 2011, Bộ GD&ĐT đã (3 lần) cử các Chuyên gia trực tiếp là Tác giả của tài liệu (SGK) lên kiểm tra, hỗ trợ kỹ thuật, đồng thời đánh giá hiệu quả của việc triển khai dạy học thí điểm tài liệu theo mô hình trường học mới lớp 2 VNEN tại 04 trường tiểu học của tỉnh Hà Giang. Sau một năm triển khai dạy thử nghiệm tại 6 tỉnh, các Chuyên gia của Bộ GD&ĐT và Viện Khoa học giáo dục Việt Nam đánh giá hiệu quả của tài liệu như sau:
+ Tài liệu được học sinh tiếp nhận tốt với sự thu hút từ hệ thống kênh hình, kênh chữ phù hợp, thể hiện rõ các hoạt động để học sinh chủ động tích cực tự giác tham gia vào hoạt động học tập.
+ Chương trình, nội dung phù hợp, vừa sức. Phụ huynh có thể hỗ trợ học sinh trong việc thực hiện các bài tập ứng dụng ở nhà.
+ Học sinh được trải nghiệm thực tiễn và chủ động trong việc chiếm lĩnh kiến thức. Tiêu đề của các bài gần gũi với đối tượng học sinh, môi trường xung quanh; phát huy được tính tích cực, bài học có nhiều tình huống gây sự chú ý của học sinh.
+ Nội dung kiến thức và phương pháp từng bài thiết kế phong phú theo nhiều hình thức khác nhau, không theo một khuôn mẫu, một quy trình nhất định, giúp học sinh chủ động phát huy được năng lực học tập tại lớp và ở nhà.
+ Học sinh học theo tài liệu VNEN mạnh dạn, tự tin hơn trong học tập, các em có khả năng tự thể hiện các tiểu phẩm ngắn trong các giờ học và các hoạt động ngoại khoá do nhà trường tổ chức.
Nhược điểm
+ Để dạy học theo tài liệu thử nghiệm mô hình VNEN có kết quả, giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian cho việc chuẩn bị đồ dùng và thiết bị dạy học;
+ Một số nội dung bài học: môn Toán, Tiếng việt, TNXH, kiến thức của sách giáo khoa hơi nặng đối với những học sinh có học lực yếu, kém;
Theo kiến nghị của cử tri: Hiện nay chương trình giáo dục một số Trường tiểu học trong tỉnh có nhiều chương trình khác nhau là không đúng với thực tế  mà đây chỉ là tài liệu (SGK) được các Chuyên gia chuyển thể từ chương trình và sách giáo khoa đang hiện hành sang theo mô hình mới nhằm thay đổi phương pháp và kỹ thuật dạy học, giúp học sinh đọc, viết và nắm chắc kiến thức bài học tốt hơn.
Năm học 2012-2013, toàn tỉnh có 130 trường tiểu học với 997 lớp và 2977 học sinh (lớp 1) đang học theo tài liệu lớp 1-CGD, số lớp 1 còn lại đang học theo chương trình 175 tuần hiện hành; 73 trường tiểu học được Bộ GD&ĐT chọn tham gia Dự án VNEN với 322 lớp và 6629 học sinh lớp 2, 3 đang học theo tài liệu thử nghiệm mô hình VNEN của Bộ GD&ĐT so với chương trình 175 tuần đang hiện hành vẫn là một chương trình thống nhất.
Hiện nay Bộ GD&ĐT đang tiếp tục chỉ đạo triển khai dạy học thí điểm tài liệu lớp 1-CGD tại 27 tỉnh; dạy học theo mô hình trường học mới lớp 2, 3 VNEN tại 63 tỉnh, thành phố trên phạm vi toàn quốc. Tỉnh Hà Giang tiếp tục triển khai dạy học thử nghiệm 02 Tài liệu (SGK) nêu trên để các trường được thụ hưởng hỗ trợ từ Dự án của Bộ GD&ĐT.
Lên phía trên
Trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri sau kỳ họp thứ 4 - Đoàn ĐBQH khóa XIII tỉnh Hà Giang (cử tri xã Tả Lủng, huyện Mèo Vạc; xã Sủng Trái huyện Đồng Văn).
Câu hỏi:
Thực hiện Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ Quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2014 - 2015: đối với việc thực hiện hỗ trợ chi phí học tập trực tiếp cho các đối tượng quy định tại Điều 6 của Nghị định với mức 70.000đ/tháng/học sinh để mua sách, vở và các đồ dùng khác... Có ý kiến cử chi là mua theo chỉ đạo còn đắt hơn mua ngoài. Đề nghị Uỷ ban nhân dân tỉnh phân cấp về cho các trường chủ động mua sắm cho học sinh theo tình hình thực tế và đảm bảo phù hợp với hoàn cảnh gia đình từng học sinh
Trả lời:
Thực hiện Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014-2015: Đối với việc thực hiện hỗ trợ chi phí học tập trực tiếp cho các đối tượng quy định tại Điều 6 của Nghị định với mức 70.000đ/tháng/học sinh để mua sách, vở và các đồ dùng khác.
Căn cứ Thông tư số 29/2010/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH ngày 15/11/2010 của Liên bộ GD&ĐT, Bộ Tài Chính, Bộ LĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014-2015, UBND tỉnh chỉ đạo Sở Giáo dục & Đào tạo tổ chức họp tư vấn với Sở Tài Chính và Sở Lao động - Thương binh xã hội thống nhất tham mưu cho UBND tỉnh ban hành văn bản số 55/UBND-KTTH ngày 01/6/2011, hướng dẫn việc thực hiện cấp bù kinh phí miễn giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập theo Nghị định số 49/2010/NĐ-CP của Chính phủ.
Hiện nay, Phòng Giáo dục và Đào tạo các huyện thực hiện ký hợp đồng nguyên tắc với đơn vị cung ứng nhưng trong hợp đồng không ký kết về đơn giá giấy vở...  là chưa đúng với quy định tại Hướng dẫn số 55/UBND-KTTH ngày 01/6/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh. Theo hướng dẫn thì Phòng Giáo dục và Đào tạo các huyện phải tổng hợp nhu cầu mua sách giáo khoa, giấy vở viết, đồ dùng học tập của các trường học trên địa bàn và thực hiện ký kết hợp đồng với đơn vị cung ứng để mua sắm tập trung cho tất cả các trường trên địa bàn huyện. Do khối lượng mua sắm lớn, nên phải tổ chức đấu thầu theo đúng quy định hiện hành.
Để học sinh có sách giáo khoa, giấy vở và đồ dùng học tập đảm bảo chất lượng với giá cả phù hợp, Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu UBND các huyện, thành phố triển khai thực hiện đúng theo Hướng dẫn số 55/UBND-KTTH ngày 01/06/2011 của UBND tỉnh. Phòng Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm trực tiếp ký hợp đồng và thực hiện mua sắm tập trung trên cơ sở tổng hợp nhu cầu từ các trường học. Quá trình mua sắm phải tuân thủ đúng quy định của Luật Đấu thầu, không giao cho các nhà trường tự ký hợp đồng với đơn vị cung ứng, mua đơn lẻ như hiện nay. 
Lên phía trên
Trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri trước kỳ họp thứ 4 - Đoàn ĐBQH khóa XIII tỉnh Hà Giang (cử tri xã Tả Nhìu, Bản Ngò huyện Xín Mần).
Câu hỏi:
Học sinh 5 tuổi ở các trường Mầm non được hưởng hỗ trợ ăn trưa với mức 120.000đ/tháng/cháu theo thời gian học thực tế theo Thông tư 29/TTLB-BGDĐT-BTC ngày 15/7/2011 của Bộ Giáo dục & Đào tạo và Bộ Tài chính. Đề nghị Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét quyết định bổ sung cho người cấp dưỡng tại các trường Mầm non được hưởng chế độ phụ cấp hàng tháng như người cấp dưỡng tại các trường tiểu học, trung học cơ sở theo Nghị quyết Số: 22/2011/NQ-HĐND, ngày 15 tháng 7 năm 2011 của Hội đồng nhân dân tỉnh.
Trả lời:
Khoản 2, Điều 2 Nghị quyết số 22/2011/NQ-HĐND ngày 15/7/2011của Hội đồng nhân dân tỉnh quy định người phục vụ học sinh bán trú tại các trường phổ thông công lập "là người được nhà trường thuê để nấu ăn cho học sinh bán trú ăn tập trung tại trường".
Người cấp dưỡng tại các trường tiểu học, THCS không được hưởng chế độ phụ cấp hàng tháng. Theo văn bản số 1622/STC-QLNS ngày 28/8/2012 Sở Tài chính về việc hợp đồng nhân viên làm nhiệm vụ nuôi dưỡng học sinh bán trú thì các trường PTDT bán trú và phổ thông công lập được hợp đồng nhân viên làm nhiệm vụ nuôi dưỡng học sinh; Mức chi trả hợp đồng tối thiểu theo quy định tại Nghị quyết số 22/2011/NQ-HĐND; Nguồn kinh phí thực hiện theo dự toán giao thực hiện quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm của các trường để chi trả. Tuy nhiên, chưa có hướng dẫn về người phục vụ nấu ăn cho học sinh 5 tuổi của các trường mầm non.
UBND tỉnh xin tiếp thu và đang chỉ đạo Sở GD&ĐT phối hợp với Sở Tài chính và các đơn vị liên quan để có hướng dẫn cụ thể về người phục vụ nấu ăn cho học sinh 5 tuổi tại các trường mầm non theo kiến nghị của cử tri.
Lên phía trên
Trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri trước kỳ họp thứ 3 - Đoàn ĐBQH khoá XIII tỉnh Hà Giang (cử tri xã Tân Thành, huyện Bắc Quang).
Câu hỏi:
Đề nghị UBND tỉnh xem xét miễn thu học phí đối với học sinh mầm non ở xã vùng II mức thu: 15.000 đồng/tháng/học sinh là rất khó khăn vì đa số học sinh là con hộ nghèo nên không thu được và các cháu không đến lớp
Trả lời:
Hiện nay, việc miễn, giảm thu học phí đối với học sinh mầm non được áp dụng theo các văn bản sau: Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 qui định về miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014-2015; Nghị quyết số 24/2011/NQ-HĐND ngày 15/7/2011 của HĐND tỉnh Quy định mức học phí đối với giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học ở các cơ sở giáo dục đào tạo công lập trên địa bàn tỉnh Hà Giang, từ năm học 2011-2012 đến năm học 2014-2015; Hướng dẫn số 55/UBND-KTTH, ngày 01/6/2011 của UBND tỉnh Hà Giang về việc thực hiện cấp bù kinh phí miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập theo Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ.
 - Theo qui định, trẻ em học mẫu giáo được miễn học phí trong các trường hợp sau: là thân nhân của người có công với cách mạng theo Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29 tháng 6 năm 2005; có cha mẹ thư­ờng trú tại các xã biên giới, vùng cao, hải đảo và các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; mồ côi cả cha lẫn mẹ không nơi n­ương tựa hoặc bị tàn tật, khuyết tật có khó khăn về kinh tế; trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng; trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích theo quy định tại Điều 78 của Bộ luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật; trẻ em có cha và mẹ hoặc cha hoặc mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không còn người nuôi dưỡng; trẻ em học mẫu giáo có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo theo quy định của Nhà nư­ớc; trẻ em học mẫu giáo là con của hạ sĩ quan và binh sĩ, chiến sĩ đang phục vụ có thời hạn trong lực lượng vũ trang nhân dân.
- Các đối tượng được giảm 50% học phí gồm: Trẻ em học mẫu giáo là con cán bộ, công nhân, viên chức mà cha hoặc mẹ bị tai nạn lao động hoặc mắc bệnh nghề nghiệp đư­ợc hư­ởng trợ cấp thường xuyên; trẻ em học mẫu giáo có cha mẹ thuộc diện hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo.
- Đối tượng được hỗ trợ chi phí học tập gồm: Trẻ em học mẫu giáo có cha mẹ thư­ờng trú tại các xã biên giới, vùng cao, hải đảo và các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; trẻ em học mẫu giáo mồ côi cả cha lẫn mẹ không nơi nương tựa hoặc bị tàn tật, khuyết tật có khó khăn về kinh tế; trẻ em học mẫu giáo có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo theo quy định của Nhà nư­ớc, không thuộc các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Đối với 80 cháu học sinh của trường Mầm non xã Tân Thành thuộc các đối tượng được miễn giảm học phí (hộ nghèo = 19 cháu, gia đình chính sách = 02 cháu, học sinh khuyết tật thuộc hộ khó khăn = 01 cháu, học sinh thuộc thôn vùng 3 = 58 cháu). Tuy nhiên nhà trường vẫn phải thu học phí, đồng thời làm thủ tục hồ sơ cho các cháu được hưởng theo quy định. Khi có QĐ của UBND huyện cấp bù và miễn giảm học phí, nhà trường có trách nhiệm hoàn trả số tiền đã thu cho gia đình học sinh. 
Lên phía trên
Bộ Giáo dục và Đào tạo trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri tỉnh Hà Giang trước kỳ họp thứ 4 - Quốc hội khóa XIII tại văn bản số 732/BGDĐT-VP, ngày 29/01/2013
Câu hỏi:
Hiện nay trẻ em trong độ tuổi năm tuổi đang học ở các cơ sở giáo dục mầm non có cha mẹ thường trú ở các xã biên giới, núi cao, hải đảo và các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đang được hưởng hỗ trợ ăn trưa với mức 120.000đ/tháng/cháu theo thời gian học thực tế theo Thông tư số 29/TTLB-BGĐT-BTC ngày 15/7/2011 của Bộ Giáo dục & Đào tạo và Bộ Tài chính. Tuy nhiên ở cùng một trường, nhất là các điểm trường thôn bản trẻ em trong độ tuổi ba tuổi, bốn tuổi học chung một phòng học, việc tổ chức cho các cháu ăn trưa rất bất cập;
Đề nghị Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương xem xét bổ sung đối tượng trẻ em trong độ tuổi ba tuổi, bốn tuổi có cha mẹ thường trú ở các xã biên giới, núi cao, hải đảo và các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng hỗ trợ ăn trưa theo Thông tư số 29/TTLB-BGĐT-BTC ngày 15/7/2011 của Bộ Giáo dục & Đào tạo và Bộ Tài chính.
Trả lời:
Theo Quyết định số 60/2011/QĐ-TTg ngày 26/10/2011, Quy định một số chính sách phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2011 - 2015, (mục c, khoản 1, điều 2): Trẻ em mẫu giáo 3 và 4 tuổi có cha mẹ thường trú tại các xã biên giới, núi cao, hải đảo, các xã và thôn bản đặc biệt khó khăn, hoặc cha mẹ thuộc diện hộ nghèo theo quy định hoặc mồ côi cả cha lẫn mẹ không nơi nương tựa hoặc bị tàn tật, khuyết tật có khó khăn về kinh tế, được ngân sách nhà nước hỗ trợ 120.000 đồng/tháng và được hưởng theo thời gian học thực tế, nhưng không quá 9 tháng/năm học để duy trì bữa ăn trưa tại trường.

Như vậy, trẻ em mẫu giáo 3 và 4 tuổi sẽ được hỗ trợ tiền ăn như đối với trẻ 5 tuổi, đối tượng và mức hỗ trợ giống nhau. Dự kiến Thông tư liên tịch hướng thực hiện nội dung này sẽ ban hành trong quý 1/2013.
Lên phía trên
Trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri sau kỳ họp thứ 2 - Đoàn ĐBQH khoá XIII tỉnh Hà Giang (cử tri huyện Đồng Văn, Yên Minh).
Câu hỏi:
Hiện nay việc cấp kinh phí hỗ trợ học sinh bán trú dân nuôi theo năm ngân sách rất bất cập, kinh phí thường chậm từ hai đến ba tháng so với năm học ảnh hưởng đến đời sống của học sinh. Đề nghị Uỷ ban nhân dân xem xét chỉ đạo các sở, ngành cấp kinh phí hỗ trợ theo năm học, đảm bảo hàng tháng các Trường học có kinh phí duy trì bữa ăn cho học sinh bán trú dân nuôi
Trả lời:
Chế độ học sinh phổ thông dân tộc bán trú theo Quyết định số 85/2010/QĐ-TTg của Chính phủ, ngày 22/12/2011 liên Bộ: Giáo dục và đào tạo, Tài chính, Kế hoạch và đầu tư đã có Thông tư liên tịch số 65/2011/TTLT-BGDDT-BTC-BKHĐT hướng dẫn thực hiện Quyết định số 85/2010/QĐ-TTg. Quá trình làm việc với Bộ Tài chính xác định nhu cầu hỗ trợ học sinh bán trú và trường phổ thông dân tộc bán trú sẽ mất nhiều thời gian. Để đảm bảo kinh phí hỗ trợ tiền ăn cho học sinh bán trú và kinh phí thực hiện chế độ hỗ trợ đối với cán bộ quản lý, người phục vụ học sinh bán trú 5 tháng tiếp theo của năm học 2011-2012, UBND tỉnh đã tạm cấp kinh phí để thực hiện chính sách hỗ trợ học sinh bán trú, cán bộ quản lý, nhân viên phục vụ học sinh bán trú 5 tháng học kỳ II năm học 2011-2012 số tiền 21,926 tỷ đồng.
Việc cấp kinh phí hỗ trợ cho học sinh theo các chế độ của nhà nước qui định chỉ thực hiện cấp theo năm niên độ ngân sách chứ không thực hiện cấp theo năm học như ý kiến cử tri đề nghị được.
Lên phía trên
Bộ Giáo dục và Đào tạo trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri tỉnh Hà Giang trước kỳ họp thứ 3 - Quốc hội khóa XIII tại Công văn số 5565/BGDĐT-VP ngày 24/8/2012
Câu hỏi:
. Nhiều cử tri đang công tác trong ngành giáo dục cho rằng, hiện chế độ chính sách đối với cán bộ quản lý ngành giáo dục (phụ cấp đứng lớp và phụ cấp thâm niên) còn bất cập, thiếu công bằng. Từ quy định bất cập này đã xảy ra tình trạng các sở, phòng giáo dục không tuyển được cán bộ có kinh nghiệm trong ngành sang làm cán bộ quản lý. Cử tri kiến nghị Chính phủ và các Bộ, ngành chức năng cần nghiên cứu và có cơ chế đặc thù cho đội ngũ công chức nguyên là giáo viên sang công tác tại các đơn vị sở, phòng giáo dục và đào tạo; bổ sung chế độ đối với cán bộ không trực tiếp làm công tác giảng dạy theo Nghị định 54/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 về chế độ phụ cấp thâm niên đối với nhà giáo. Không thể xem họ như những cán bộ công chức hành chính nhà nước khác được vì thực tế họ không phải là công chức tuyển dụng mới như các ngành mà hầu hết là giáo viên giỏi từ các trường lên. Họ tuy không đứng lớp nhưng đang làm công tác chỉ đạo, hướng dẫn người dạy nên thực tế họ vẫn như giáo viên đứng lớp gián tiếp.
Để khuyến khích thu hút đội ngũ giáo viên giỏi về công tác ở những cơ quan quản lý giáo dục, đề nghị Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo xem xét có chế độ thay thế cho chuyên viên, cán bộ phòng giáo dục và đào tạo, sở giáo dục và đào tạo, đồng thời giải quyết chế độ phụ cấp thâm niên.
Trả lời:
Nhằm thực hiện chính sách, khuyến khích nhà giáo giảng dạy trong các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông công lập được điều động làm công tác quản lý giáo dục, hỗ trợ họ khắc phục khó khăn trong thời gian đầu thực hiện quyết định điều động, ngày 05/8/2011 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 42/2011/QĐ-TTg về Bảo lưu chế độ phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo được điều động làm công tác quản lý giáo dục. Điều 2, Quyết định số 42/2011/QĐ-TTg, quy định: “Mức phụ cấp ưu đãi được bảo lưu là mức phụ cấp ưu đãi mà nhà giáo được hưởng ở cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông công lập trước khi được điều động về công tác tại phòng giáo dục và đào tạo, sở giáo dục và đào tạo”. Điều 3, Quyết định số 42/2011/QĐ-TTg, quy định: “Thời gian hưởng bảo lưu chế độ phụ cấp ưu đãi tại quyết định này là thời gian thực tế nhà giáo làm việc tại phòng giáo dục và đào tạo, sở giáo dục và đào tạo tối đa là 36 tháng”.
Ngày 29/5/2012 Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Kết luận số 23-KL/TW về “Một số vấn đề về tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020”. Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang phối hợp với các Bộ, ngành rà soát, xác định rõ các ngành nghề đặc thù, trên cơ sở đó xây dựng, hoàn thiện các chế độ trợ cấp, phụ cấp để bảo đảm công bằng, hợp lý, nhất là các chế độ phụ cấp theo nghề (thâm niên, ưu đãi, trách nhiệm theo nghề, công vụ) trình Chính phủ xem xét, quyết định. 
Lên phía trên
Bộ Giáo dục và Đào tạo trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri tỉnh Hà Giang trước kỳ họp thứ 4 - Quốc hội khóa XIII tại Công văn số 731/BGDĐT-VP ngày 29/ 01/2013
Câu hỏi:
Đề nghị Chính phủ xem xét nâng mức trợ cấp xã hội đối với sinh viên ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay. Vì Quyết định số 194/QĐ-TTg ngày 21/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh mức học bổng chính sách và trợ cấp xã hội đối với học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số từ năm 2001 đến nay: mức lương tối thiểu đã tăng 3,95 lần, mức trợ cấp xã hội cho sinh viên dân tộc thiểu số 140.000đồng/tháng là quá.
Đề nghị miễn, giảm học phí cho con em các dân tộc thiểu số đang theo học ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và nâng mức trợ cấp xã hội đối với sinh viên ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Trả lời:
1. Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014-2015 đã quy định đối tượng miễn học phí là: Học sinh, sinh viên học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo và hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo. Với kiến nghị của cử tri về việc miễn, giảm học phí cho con em các dân tộc thiểu số đang học ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho rằng con em các dân tộc thiểu số thường sống ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, hộ gia đình chủ yếu là hộ nghèo và cận nghèo, do vậy sẽ được hưởng chế độ miễn, giảm học phí theo Nghị định 49/2010/NĐ-CP.
2. Về đề nghị nâng mức trợ cấp xã hội đối với sinh viên ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn: Đối với sinh viên ở vùng cao vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hiện nay chế độ Nhà nước chưa có quy định trợ cấp cho đối tượng này. Đối với sinh viên là người dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hiện đang được hưởng mức trợ cấp theo Thông tư liên tịch số 53/1998/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH ngày 25/8/1998 hướng dẫn thực hiện chế độ học bổng và trợ cấp xã hội đối với học sinh, sinh viên các trường đào tạo công lập. Thông tư liên tịch số 53/1998/TTLT-BGDĐT-BTC-BL ĐTBXH đã ban hành từ năm 1998, mức chi đến nay không còn phù hợp.
Hiện nay, liên Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính và Bộ Giáo dục và Đào tạo đang trình Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1121/1997/QĐ-TTg ngày 23/12/1997 của Thủ tướng Chính phủ về học bổng và trợ cấp xã hội đối với học sinh, sinh viên các trường đào tạo công lập, dự kiến sẽ nâng mức trợ cấp xã hội bằng 50% mức lương tối thiểu. 
Lên phía trên
Trả lời kiến nghị cử tri Đoàn ĐBQH khóa XIII tỉnh Hà Giang TXCT Trước kỳ họp 7 (cử tri huyện Bắc Mê)
Câu hỏi:
Biên chế ngành giáo dục hiện nay còn thiếu rất nhiều, đặc biệt các trường đang thực hiện chương trình phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi. Đề nghị xem xét bổ sung thêm biên chế giáo viên đứng lớp bậc học mầm non
Trả lời:
Theo kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 tại Hội nghị Trung ương 7 khóa XI và chỉ đạo của Bộ Nội vụ, từ nay đến năm 2016 cơ bản không tăng tổng biên chế của cả hệ thống chính trị. Do vậy UBND tỉnh Hà Giang không bổ sung số lượng người làm việc trong các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập. Hiện nay UBND tỉnh đang chỉ đạo thực hiện kế hoạch xây dựng đề án vị trí việc làm công chức, viên chức trong toàn tỉnh, sau khi đề án được phê duyệt sẽ triển khai thực hiện theo quy định.
Lên phía trên
Trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri trước kỳ họp thứ 8 của Đoàn ĐBQH khóa XIII tỉnh Hà Giang (cử tri các huyện trong tỉnh Hà Giang kiến nghị)
Câu hỏi:
Đề nghị tỉnh triển khai thực hiện Nghị định số: 19/2013/NĐ-CP ngày 23 tháng 02 năm 2013 của Chính phủ về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 61/2006/NĐ-CP ngày 20 tháng 6 năm 2006 của Chính phủ về chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục công tác ở trường chuyên biệt, ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có Thông tư liên tịch số 35/TTLT-BGD&ĐT-BNV-BTC có hiệu lực từ ngày 03/11/2013.
Trả lời:
Ngày 09 tháng 10 năm 2013 Sở Tài chính đã có công văn số 1330/STC-QLNS gửi UBND các huyện, thành phố về việc tổng hợp nhu cầu kinh phí thực hiện Nghị định số 19/2013/NĐ-CP năm 2013, 2014;

Qua báo cáo của UBND các huyện, thành phố, Sở Tài chính tổng hợp năm 2013 không có đối tượng nào đủ điều kiện được hưởng; năm 2014 có 69 người (Quản Bạ 04, Bắc Quang 01, Quang Bình 64) được hưởng chính sách thu hút theo Nghị định số 19/2013/NĐ-CP của Chính phủ. Hiện nay, Sở Tài chính đang tổng hợp trình UBND tỉnh bổ sung kinh phí để thực hiện chính sách này cho các đối tượng được thụ hưởng.
Lên phía trên
Trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri UBND tỉnh trả lời sau kỳ họp thứ 8 của Đoàn ĐBQH khóa XIII tỉnh Hà Giang (cử tri xã Thông Nguyên, huyện Hoàng Su Phì)
Câu hỏi:
Tại buổi tiếp xúc cử tri đã đề nghị: Sở Giáo dục - Đào tạo xem xét cho cán bộ y tế học đường ở các xã đặc biệt khó khăn được hưởng chế độ phụ cấp thu hút như giáo viên và được đi học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ .
Trả lời:
Hiện nay viên chức Y tế học đường ở các xã đặc biệt khó khăn trong toàn tỉnh (trong đó có huyện Hoàng Su Phì) đã và đang được hưởng chế độ thu hút theo quy định tại Nghị định 116/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và được đi học tập nâng cao trình độ theo quy định của Nhà nước.
 

VIDEO HOẠT ĐỘNG

KIẾN NGHỊ CỬ TRI














 


  



ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG
Địa chỉ: Số 01 Đường Đội Cấn - Phường Nguyễn Trãi - Thành phố Hà Giang - Tỉnh Hà Giang
Số điện thoại: 02193.867.356 - Fax: 02193.860.778
Email: bbt.dbnd@hagiang.gov.vn