LƯỢT TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 14

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 12


Hôm nayHôm nay : 2152

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 32191

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2539216

LIÊN KẾT WEBSITE

ĐĂNG NHẬP

Lên phía trên
Trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri Bộ Nội vụ trả lời trước kỳ họp thứ 8 của Đoàn ĐBQH khóa XIII tỉnh Hà Giang (cử tri các xã, phường, thị trấn trong tỉnh)
Câu hỏi:
Việc tăng lương hiện nay không theo kịp với Đề án cải cách tiền lương và mặt bằng giá cả chung của khu vực kiến nghị chính phủ cải cách chế độ tiền lương theo hướng tăng hệ số lương trong thang lương, bảng lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội để đảm bảo an sinh xã hội cho người về hưu. Đồng thời, cử tri nhiều lần kiến nghị chính phủ sớm có chính sách cải cách tiền lương đối với cán bộ, công chức xã, người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn.
Trả lời:
1. Về tiền lương đối với cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã:

a) Cán bộ, công chức ở cấp xã được thực hiện chế độ tiền lương theo Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã. Theo đó, Bộ Nội vụ đã phối hợp với Bộ Tài chính và Bộ Lao động – Thương binh và xã hội ban hành Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTBXH ngày 27 tháng 5 năm 2010 hướng dẫn thực hiện. Trong đó, đã quy định cán bộ, công chức cấp xã có trình độ đào tạo phù hợp với chuyên môn nghiệp vụ của chức danh hiện đảm nhiệm được xếp lương theo các ngạch công chức hành chính.

b) Người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã thực hiện chế độ phụ cấp hàng tháng quy định tại Nghị định số 29/2003/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2003 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của chính phủ, trong đó đã quy định thực hiện chế độ khoản quỹ phụ cấp hàng tháng đối với những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố. Số lượng, chức danh, mức phụ cấp của từng chức danh, mức phụ cấp kiêm nhiệm chức danh đối với những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố từ nguồn kinh phí khoản quỹ phụ cấp của ngân sách Trung ương và nguồn kinh phí từ ngân sách địa phương do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quy định bảo đảm tương quan hợp lý với hệ số lương của cán bộ, công chức cấp xã và khuyến khích những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố có trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ.

2. Về Đề án cải cách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức:

Vấn đề cử tri nêu trên đã được Bộ Nội vụ tổng hợp, báo cáo và đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết trong quá trình nghiên cứu xây dựng Đề án cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong các doanh nghiệp. Đề án này đã được trình tại hội nghị Trung ương 5 khóa XI (tháng 5 năm 2012) và Hội nghị Trung ương 7 khóa IX (tháng 5 năm 2013). Tuy nhiên, do nền kinh tế nước ta còn nhiều khó khăn, việc triển khai thực hiện các giải pháp tạo nguồn và đổi mới cơ chế đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, tinh giảm biên chế, sắp xếp tổ chức bộ máu đối với các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội đang triển khai thực hiện chưa có nhiều kết quả, nên khó bố trí đủ nguồn cho cải cách tiền lương. Vì vậy, Trung ương chưa thông qua Đề án và tiếp tục giao cho Ban cán sự Đảng chính phủ  chuẩn bị kỹ Đề án để trình Trung ương vào thời điểm thích hợp, khi có đủ điều kiện thực hiện.

Trong thời gian Trung ương chưa thông qua Đề án cải cách chính sách tiền lương, không bổ sung các loại phụ cấp đặc thù theo ngành nghề. Căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội, khả năng ngân sách nhà nước, Bộ Nội vụ sẽ phối hợp với cơ quan liên quan trình Chính phủ báo cáo Quốc hội xem xét từng bước điều chỉnh tiền lương theo đúng kết luận số 63-KL/TW của Hội nghị trung ương 7 khóa XI.
Lên phía trên
Trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri Bộ khoa học và công nghệ trả lời trước kỳ họp thứ 8 của Đoàn ĐBQH khóa XIII tỉnh Hà Giang (cử tri Ban Quản lý khu kinh tế cửa khẩu)
Câu hỏi:
Hiện nay, các doanh nghiệp khi nhập khẩu máy móc, thiết bị công nghệ qua cửa khẩu phải thực hiện việc giám định chất lượng. Đề nghị chính phủ xem xét cho thành lập Trạm giám định chất lượng hàng hóa máy móc, thiết bị công nghệ tại cửa khẩu để giảm chi phí, thời gian cho các doanh nghiệp.
Trả lời:
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ khoa học và công nghệ đang xây dựng Thông tư sửa đổi Thông tư số 20/2014/TT-BKHCN quy định việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng. Về điều kiện nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng có nội dung quy định về % chất lượng còn lại và việc xác định % chất lượng còn lại do tổ chức giám định thực hiện. Dự kiến tổ chức giám định được thành lập theo quy định tại Luật Thương mại.

Sau khi Thông tư được ban hành, Bộ Khoa học và công nghệ sẽ gửi văn bản tới Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố để triển khai, thực hiện.
Lên phía trên
Cử tri tỉnh Hà Giang kiến nghị Bộ NN và PTNT tại kỳ họp 9 Quốc hội khóa XIII
Câu hỏi:
Đề nghị Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành quy hoạch và xây dựng cơ chế “Liên kết phát triển vùng dược liệu miền núi biên giới phía Bắc gắn với các khu, công nghiệp chế biến dược liệu ở Hà Giang” với cơ chế ưu đãi cho vùng khó khăn; cho phép tỉnh Hà Giang được xây dựng Đề án trình Chính phủ về “Thí điểm các cơ chế, chính sách đặc thù ưu tiên vùng khó khăn, biên giới phát triển nông – công nghiệp dược liệu quy mô lớn” kết nối các địa phương trong vùng.
Trả lời:
Hà Giang là địa phương được xác định có điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, chế biến cây dược liệu trong vùng miền núi phía Bắc. Trên cơ sở đó, UBND tỉnh Hà Giang đã xây dựng Đề án phát triển cây dược liệu trên địa bàn Tỉnh. Từ năm 2013 đến nay, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã có nhiều văn bản ủng hộ chủ trương và góp ý trong quá trình xây dựng, hoàn thiện Đề án của Tỉnh và Đề án đang được Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định ban hành. Việc xây dựng Đề án trên nhằm hiện thực hóa quy hoạch tổng thể phát triển cây dược liệu đến năn 2020 và định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30 tháng 10 năm 2013.

Để phát huy điều kện tự nhiên nhằm sản xuất hàng hóa quy mô lớn, gắn với chế biến, tiêu thụ dược liệu, cần thiết phải xây dựng quy hoạch vùng và nghiên cứu ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù khuyến khích phát triển cho vùng khó khăn như các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và Hà Giang nói riêng. Vì vậy, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thống nhất với các đề nghị trên của cử tri Hà Giang và sẽ phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Lên phía trên
Cử tri tỉnh Hà Giang kiến nghị Bộ tài chính tại kỳ họp 9 Quốc hội khóa XIII
Câu hỏi:
Đề nghị cho chủ trương để Hà Giang được xây dựng và báo cáo Chính phủ phương án quản lý và sử dụng nguồn thu hoạt động xuất – nhập khẩu qua các cửa khẩu trên địa bàn tỉnh.
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 30 Luật ngân sách Nhà nước, số thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu là khoản thu của ngân sách trung ương hưởng 100% và được cân đối để đảm bảo các nhiệm vụ chi của NSTW, trong đó có nhiệm vụ chi hỗ trợ các địa phương phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an sinh xã hội.

Ngày 10/11/2011 Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 2 đã có Nghị quyết số 14/2011/QH13 về dự toán ngân sách Nhà nước năm 2012; trên cơ sở đó Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2113/QĐ-TTg ngày 28/11/2011 về giao dự toán ngân sách Nhà nước năm 2012, trong đó đã quy định: Hàng năm, dành tối đa 30% số vượt thu so với dự toán (dự toán thu phải cao hơn số thực hiện năm trước) đối với số thu từ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của hàng hóa thông quan tại cửa khẩu quốc tế đường bộ trên địa bàn cho ngân sách các tỉnh có cửa khẩu quốc tế đường bộ để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho khu kinh tế cửa khẩu. Giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư xác định số vượt thu; báo cáo Thủ tướng Chính phủ phương án phân bổ cho các tỉnh có cửa khẩu quốc tế đường bộ để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho khu kinh tế cửa khẩu trong giai đoạn 2012 – 2015 theo Đề án đầu tư khu kinh tế cửa khẩu được phê duyệt nhưng không quá 200 tỷ đồng/năm/địa phương.

Đối với cửa khẩu Thanh Thủy của Tỉnh Hà Giang được nâng cấp lên cửa khẩu quốc tế theo Quyết định số 556/QĐ-TTg ngày 18/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ, căn cứ quy định trên và kết quả thực hiện thu ngân sách năm 2015, Bộ Tài chính sẽ chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư xác định số vượt thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu từ năm 2015 của hàng hóa thông quan tại cửa khẩu quốc tế đường bộ trên địa bàn Tỉnh, báo cáo Thủ tướng Chính phủ phương án phân bổ cho các tỉnh có cửa khẩu quốc tế đường bộ để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho khu kinh tế cửa khẩu trong giai đoạn 2012 – 2015 theo Đề án đầu tư khu kinh tế cửa khẩu được phê duyệt.
Lên phía trên
Cử tri tỉnh Hà Giang kiến nghị tại kỳ họp 9 Quốc hội khóa XIII
Câu hỏi:
Đề nghị Chính phủ triển khai các nhóm chính sách hỗ trợ việc tái cơ cấu khu vực tài chính, giảm thiểu rủi ro bất ổn tài chính.
Trả lời:
Đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh là một trong các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 – 2015 và tiếp tục là mục tiêu ưu tiên trong giai đoạn tiếp theo. Ba trụ cột tái cơ cấu nền kinh tế bao gồm: Tái cơ cấu đầu tư trọng tâm là đầu tư công; tái cơ cấu thị trưởng tài chính và tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước (DNNN).

Đối với khu vực tài chính, tái cơ cấu cần tập trung triển khai các giải pháp cơ bản sau:

(1) Đẩy mạnh tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là các tập đoàn kinh tế và Tổng công ty thông qua việc triển khai sắp xếp lại DNNN, cổ phần hóa và thoái vốn ngoài ngành nhằm bảo toàn và phát triển vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp; nâng cao năng lực quản trị, điều hành, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước, tăng nguồn thu cho NSNN và tạo việc làm cho người lao động.

(2) Tiếp tục hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực tài chính, đảm bảo tính công khai, minh bạch, ổn định và phù hợp với nhu cầu thực tiễn phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.

(3) Tập trung tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh; quyết liệt chống thất thu, chống buôn lậu, gian lận thương mại, chuyển giá, giảm nợ đọng thuế; đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là các thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người nộp thuế để thúc đẩy phục hồi tăng trưởng, tăng thu NSNN.

(4) Tăng cường công tác quản lý chi NSNN, đảm bảo chặt chẽ, tiết kiệm và hiệu quả; cơ cấu lại chi NSNN theo hướng điều chỉnh tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển trong tổng chi NSNN và giảm dần tỷ trọng chi thường xuyên mức hợp lý; bố trí chi đảm bảo các khoản nợ đến hạn.

(5) Đẩy mạnh cơ chế tự chủ tài chính đối với khu vực sự nghiệp công. Xây dựng lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí NSNN theo hướng từng bước tính đủ chi phí phù hợp với khả năng đóng góp của người dân; đồng thời Nhà nước có chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người có công với cách mạng, đối với chính sách được tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ công cơ bản thiết yếu.

(6) Thực hiện nhất quán chủ trương quản lý giá theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, trong đó chú trọng điều hành giá đối với một số mặt hàng (điện, xăng dầu, dịch vụ công,…) theo lộ trình phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát.

(7) Thực hiện các biện pháp cơ cấu lại các khoản nợ, nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản vay của Chính phủ, kiểm soát chặt chẽ các khoản bảo lãnh Chính phủ.

(8) Hoàn thiện cơ chế quản lý thị trường tài chính, thúc đẩy phát triển thị trường trái phiếu; điều hành lãi suất trái phiếu chính phủ linh hoạt phù hợp với điều hành chính sách tiền tệ đáp ứng nhu cầu huy động vốn cho NSNN.
Lên phía trên
Cử tri tỉnh Hà Giang kiến nghị Ngân hàng nhà nước Việt Nam tại kỳ họp 9 Quốc hội khóa XIII
Câu hỏi:
Đề nghị Chính phủ triển khai các nhóm chính sách hỗ trợ việc tái cơ cấu khu vực tài chính, ngân hàng.”
Trả lời:
 Tái cấu trúc nền kinh tế là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, trong đó, cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) là một trong ba trụ cột cùng với tái cơ cấu đầu tư công, tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước góp phần chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Chính vì vậy, Đề án “cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015” đã sớm được Bộ Chính trị, Chính phủ thông qua và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/3/2013 (Đề án 254) thể hiện sự chủ động của ngành Ngân hàng và sự quyết tâm của Đảng, Chính phủ trong việc lành mạnh hóa hệ thống các TCTD. Bên cạnh đó, để tổ chức triển khai có hiệu quả Đề án 254, ngày 13/3/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 454/QĐ-TTg thành lập Ban Chỉ đạo liên ngành triển khai Đề án 254 do Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh làm Trưởng Ban Chỉ đạo. NHNN cũng đã ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng triển khai thực hiện Đề án.

Đề triển khai Đề án 254 một cách hiệu quả, trong thời gian qua, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, NHNN và các Bộ, ngành, địa phương đã tích cực triển khai các nhóm chính sách hỗ trợ cho công cuộc tái cơ cấu, xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD), cụ thể:

- Hoàn thiện một bước căn bản và triển khai đồng bộ khung pháp lý hỗ trợ cơ cấu lại hệ thống ngân hàng góp phần quan trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, tạo cơ sở pháp lý cho công tác cơ cấu lại, xử lý nợ xấu, đặc biệt là giúp huy động các nguồn lực trong xã hội, bao gồm cả nguồn lực nước ngoài tham gia.

- NHNN đã chủ động, tích cực phối hợp với các Bộ, ngành thực hiện các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn đối với vấn đề liên quan đến: xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm, cơ cấu lại các TCTD là công ty con của các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước; Hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động của các thị trường (bất động sản, hàng hóa)…

- NHNN đã phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, địa phương, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước trọng thoái vốn đầu tư ra khỏi lĩnh vực ngân hàng theo Quyết định số 51/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

- Điều hành chủ động linh hoạt chính sách tiền tệ cũng như các chính sách vĩ mô khác phù hợp với diễn biến thị trường nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, góp phần hỗ trợ cơ cấu lại TCTD và xử lý nợ xấu.

- Các chủ trương, chính sách cấp phép của NHNN tiếp tục theo hướng chặt chẽ, thận trọng, gắn với yêu cầu, mục tiêu thực hiện cơ cấu lại hoạt động, mạng lưới và nâng cao năng lực quản trị, kiểm soát rủi ro của TCTD và xử lý nợ xấu, đồng thời hỗ trợ cho phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương nhiều khó khăn, vùng sâu, vùng xa và địa bàn nông thôn.

- Triển khai đồng bộ các giải pháp cơ cấu lại toàn diện các TCTD, trong đó tập trung xử lý những TCTD yếu kém, khuyến khích, tạo điều kiện cho việc mua bán, sáp nhập, hợp nhất các TCTD.

Đến nay, sau hơn 3 năm triển khai quyết liệt, đồng bộ và toàn diện trong toàn hệ thống, tái cơ cấu các TCTD theo Đề án 254 đã đạt được một số kết quả nội bật như sau:

- Các TCTD yếu kém đã được kiểm soát; mức độ an toàn hệ thống các TCTD được cải thiện. Tâm lý thị trường và công chúng được giữ ổn định và phản ứng tích cực đối với các giải pháp cơ cấu lại các TCTD.

- Quá trình sáp nhập, hợp nhất, mua lại các TCTD diễn ra mạnh mẽ, an toàn và đạt được kết quả khả quan, góp phần giảm số lượng TCTD, tăng quy mô TCTD. Từ năm 2011 đến tháng 6/2015, hệ thống TCTD đã giảm 15 TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Đến nay, các TCTD tham gia sáp nhập, hợp nhất đều hoạt động an toàn, lành mạnh hơn, góp phần quan trong tái cơ cấu hệ thống các TCTD và xử lý các TCTD yếu kém.

- Các TCTD quan tâm đổi mới, nâng cao hiêu quả hệ thống quản trị, điều hành, hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ và rà soát, kiện toàn tổ chức bộ máy sắp xếp lại mạng lưới.
- Sở hữu chéo, đầu tư chéo trong lĩnh vực ngân hàng được xử lý từng bước thông qua nhiều giải pháp đồng bộ, đặc biệt là thông qua công tác thanh tra, giám sát; hợp nhất, sáp nhập ngân hàng và ban hành các quy định pháp lý mới.

- Khuôn khổ pháp lý về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và tái cơ cấu, xử lý nợ xấu đã được hoàn thiện một bước tạo môi trường cho hoạt động ngân hàng an toàn, lành mạnh và hiệu quả, đồng thời góp phần nâng cao vai trò, hiệu quả quản lý nhà nước của NHNN và hỗ trợ cơ cấu lại các TCTD.

Những kết quả đạt được trong cơ cấu lại các TCTD đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm sự an toàn của hệ thống các TCTD, sự ổn định của hệ thống tài chính, kinh tế vĩ mô, hỗ trợ điều hành chính sách tiền tệ, ổn định thị trường tiền tệ và tạo nền tảng vững chắc hơn cho các TCTD phát triển lành mạnh, hiệu quả trong thời gian tới. Trong điều kiện còn không ít những khó khăn, kết quả đạt được nói trên cho thấy nỗ lực và quyết tâm cao của ngành Ngân hàng trong việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng; đồng thời đã chứng minh các giải pháp cơ cấu lại các TCTD đã được triển khai quyết liệt theo đúng mục tiêu, định hướng đề ra.

Trong thời gian tới, NHNN tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương triển khai đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp nêu tại các Nghị quyết của Chính phủ, Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD và Đề án xử lý nợ xấu của các TCTD đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đảm bảo hoàn thành về cơ bản các mục tiêu cơ cấu lại hệ thống các TCTD đã đặt ra vào cuối năm 2015.
Lên phía trên
Cử tri tỉnh Hà Giang kiến nghị Bộ văn hóa thể thao và Du lịch Tại kỳ họp 9
Câu hỏi:
Đề nghị quan tâm chỉ đạo và phối hợp với tỉnh Hà Giang triển khai có hiệu quả quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị Công viên Địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn giai đoạn 2012 - 2020, tầm nhìn 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Trả lời:
Thực hiện nhiệm vụ Chính phủ phân công tại Quyết định số 310/QĐ-TTg ngày 07 tháng 02 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Công viên địa chất toàn cầu cao nguyên đá Đồng Văn giai đoạn 2012 - 2020 và tầm nhìn 2030, ngày 31 tháng 12 năm 2013, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã có Công văn số 4795/BVHTTDL-KHTC về việc uỷ quyền cho Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang chủ trì phối hợp với các đơn vị của Bộ và các đơn vị có liên quan tổ chức nghiên cứu, xây dựng "Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Cao nguyên đá Đông Văn, tỉnh Hà Giang đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030" trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt.

Ngày 30 tháng 10 năm 2014, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định số 3619/QĐ-BVHTTDL phê duyệt Đề cương, nhiệm vụ Dự án "Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Khu du lịch quốc gia Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Hà Giang đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030". Trong quá trình triển khai lập dự án Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch sẽ phối hợp với địa phương để xin ý kiến các Bộ, ngành, đơn vị liên quan để hoàn thiện dự án và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Lên phía trên
Cử tri tỉnh Hà Giang kiến nghị Bộ văn hóa thể thao và Du lịch Tại kỳ họp 9 Quốc hội khóa XIII
Câu hỏi:
Đề nghị Thủ tướng Chính phủ đồng ý chủ trương cho tỉnh Hà Giang phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương lập Dự án xây dựng làng văn hoá các dân tộc của tỉnh Hà Giang.
Trả lời:
- Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đồng ý về mặt chủ trương trong việc xây dựng làng văn hoá các dân tộc của tỉnh Hà Giang.
- Để triển khai công việc, đề nghị tỉnh Hà Giang:
+ Xây dựng Dự án cụ thể: Xác định địa điểm, quy mô, nội dung hoạt động, tiến độ triển khai, kinh phí, hiệu quả dự án...
+ Sau khi Dự án hoàn thiện, đề nghị gửi Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch phối hợp thẩm định về mặt nội dung (cùng với ý kiến của các Ban, Bộ, ngành Trung ương có liên quan), có ý kiến thoả thuận và làm quy trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Lên phía trên
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn trả lời kiến nghị cử tri Hà Giang tại Kỳ họp 10 QH khóa XIII
Câu hỏi:
Chương trình xây dựng nông thôn mới với phương thức Nhà nước và nhân dân cùng làm đã rất thành công ở nhiều nơi, đặc biệt là việc xây dựng đường giao thông nông thôn đã trở thành phong trào lớn; nhưng do nguồn vốn hỗ trợ còn rất hẹp, cử tri các xã từ nội địa đến biên giới kiến nghị Chính phủ phát hành trái phiếu xi măng để đầu tư hỗ trợ nhân dân làm đường giao thông nông thôn góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn miển núi.
Trả lời:
Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Nghị quyết số 100/2015/QH13 ngày 12/11/2015 về phê duyệt Chủ trương đầu tư các Chương trình MTQG giai đoạn 2016 – 2020, trong đó tổng vốn thực hiện từ Ngân sách Nhà nước tối thiểu cho Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới là 193.155,6 tỷ đồng (Ngân sách Trung ương 63.155,6 tỷ đồng; ngân sách địa phương 130.000 tỷ đồng), như vậy ngân sách Trung ương hỗ trợ cho Chương trình trong 05 năm tới sẽ tăng ít nhất 3,8 lần so với giai đoạn 2011 – 2015. Trong quá trình điều hành, Chính phủ sẽ tiếp tục cân đối ngân sách Trung ương để có thể hỗ trợ thêm cho Chương trình và có giải pháp huy động hợp lý mọi nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước để thực hiện. Nội dung phát triển cơ sở hạ tầng cơ bản (trong đó có đường giao thông nông thôn) được xác định là 01 trong 06 nhiệm vụ trọng tâm của Chương trình 02 năm tới.

Đồng thời, để tiếp tục đẩy nhanh tiến độ phát triển hệ thống đường giao thông nông thôn, nhất là ở các xã khó khăn, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh, Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương, đã giao cho Bộ Giao thông Vận tải cùng với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu trình Thủ tướng Chính phủ về đề án hỗ trợ phát triển giao thông nông thôn bằng xi măng cũng như vận động nguồn vốn vay ODA của các tổ chức tài chính quốc tế cho chương trình.    
Lên phía trên
Bộ Tài chính trả lời kiến nghị cử tri Hà Giang tại Kỳ họp 10 QH khóa XIII
Câu hỏi:
Đề nghị hỗ trợ tỉnh Hà Giang kinh phí để tỉnh tiến hành lập hồ sơ, giao đất giao rừng ngoài thực địa và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài cho các Ban quản lý rừng phòng họ theo quy định của Luật bảo vệ phát triển rừng và Luật đất đai để đẩy nhanh tiến độ và đạt hiệu quả đề án sắp xếp, đổi mới các lâm trường quốc doanh theo tinh thần Nghị quyết 28 – NQ/TW ngày 26/6/2003 của Bộ chính trị.
Trả lời:
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh tại văn bản số 7072/VPCP – KTTH ngày 09/9/2015 của Văn phòng Chính phủ về kinh phí thực hiện công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các công ty nông, lâm nghiệp, Bộ Tài chính đã có văn bản số 14279/BTC-NSNN ngày 13/10/2015 trình Thủ tướng Chính phủ hỗ trợ kinh phí cho các địa phương (trong đó có tỉnh Hà Giang) để thực hiện công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các công ty nông, lâm nghiệp.

Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 2394/QĐ-TTg ngày 25/12/2015 đồng ý với đề nghị của Bộ Tài chính tại văn bản số 14279/BTC-NSNN ngày 13/10/2015, trên cơ sở đó, Bộ Tài chính có văn bản số 317/BTC-NSNN ngày 08/01/2015 thông báo cho các địa phương để thực hiện. Đồng thời, đề nghị tỉnh Hà Giang chủ động sử dụng nguồn ngân sách địa phương, hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách trung ương và huy động các nguồn lực tài chính hợp pháp khác để thực hiện.
Lên phía trên
Bộ kế hoạch và Đầu tư trả lời kiến nghị cử tri Hà Giang tại Kỳ họp 10 QH khóa XIII
Câu hỏi:
Đề nghị Chính phủ xem xét tăng nguồn vốn đầu tư công cho Hà Giang giai đoạn từ năm 2015 – 2020, đặc biệt là vốn đầu tư làm đường giao thông và đầu tư chob công trình thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp ở các huyện, xã đặc biệt khó khăn. Qua tiếp xúc cử tri nhiều xã trong tỉnh, cử tri kiến nghị nhân dân đã sản xuất được một số sản phẩm nông, lâm nghiệp có giá trị kinh tế cao, là thế mạnh trong xóa đói giảm nghèo bền vững, nhưng do giao thông đi lại khó khăn nên không tiêu thụ được, mặt khác một số diện tích đất nếu được đầu tư hệ thống tưới tiêu sẽ tăng diện tích sản xuất, tạo việc làm và tăng thu nhập.
Trả lời:
Trong những năm qua, Hà Giang là một trong những địa phương được Trung ương quan tâm bố trí vốn đầu tư thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có các dự án giao thông, thủy lợi… Kế hoạch vốn ngân sách trung ương hỗ trợ cho tỉnh giai đoạn 2011 – 2015 là 3.634.433 triệu đồng (bao gồm cả vốn ODA); tổng kế hoạch vốn trái phiếu Chính phủ phân bổ cho tỉnh trong giai đoạn 2012 – 2016 là 2.313.275 triệu đồng. Ngoài ra, tỉnh còn được hỗ trợ nhiều từ các nguồn vốn khác như vốn dự phòng ngân sách trung ương, vốn tăng thu ngân sách trung ương, vốn kết dư…

Trong giai đoạn 2016 – 2020, tỉnh Hà Giang tiếp tục được ưu tiên đầu tư ở mức cao nhất. Tại công văn số 916/BKHĐT-TH ngày 05 tháng 02 năm 2016 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tỉnh Hà Giang được thông báo kiểm tra kế hoạch vốn đầu tư trung hạn nguồn NSNN giai đoạn 2016 – 2020, trong đó vốn ngân sách trung ương dự kiến là 8.170.098 triệu đồng (bao gồm cả vốn ODA)./.
 

VIDEO HOẠT ĐỘNG

KIẾN NGHỊ CỬ TRI














 


  



ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG
Địa chỉ: Số 01 Đường Đội Cấn - Phường Nguyễn Trãi - Thành phố Hà Giang - Tỉnh Hà Giang
Số điện thoại: 02193.867.356 - Fax: 02193.860.778
Email: bbt.dbnd@hagiang.gov.vn