LƯỢT TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 25

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 24


Hôm nayHôm nay : 3061

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 130060

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 5242845

LIÊN KẾT WEBSITE

ĐĂNG NHẬP

Tin tuần 36 (Từ ngày 01/9 đến 07/9/2018)

Thứ hai - 10/09/2018 09:20
* Tuyên truyền Hướng dẫn số 20-HD/BTGTU ngày 21/8/2018 về đại hội công đoàn Việt Nam lần thứ XII nhiệm kỳ 2018 – 2023:
A. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM
I. Đại hội thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc kỳ   
Do Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng triệu tập vào ngày 28/7/1929, tại nhà số 15 phố Hàng Nón, thành phố Hà Nội. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành lâm thời Tổng Công hội Đỏ do đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng đứng đầu. Đại hội thông qua Chương trình, Điều lệ của Công hội Đỏ, quyết định ra Báo Lao động và Tạp chí Công hội Đỏ.                                                              II. Tên gọi của tổ chức Công đoàn Việt Nam
Công hội Đỏ (1929 - 1935); Nghiệp đoàn Ái hữu (1936 - 1939); Hội Công nhân Phản đế (1939 - 1941); Hội Công nhân Cứu quốc (1941 - 1946); Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (1946 - 1961); Tổng Công đoàn Việt Nam (1961 - 1988); Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (1988 đến nay).
III. Các kỳ đại hội của Công đoàn Việt Nam  
1. Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ I
Họp từ ngày 01 - 15/01/1950 tại tỉnh Thái Nguyên, Đại hội đã quyết nghị về nhiệm vụ trước mắt của Công đoàn đối với đường lối kháng chiến, kiến quốc của Đảng. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành gồm 21 ủy viên chính thức và 04 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Hoàng Quốc Việt được bầu làm Chủ tịch, đồng chí Trần Danh Tuyên làm Tổng Thư ký.                                                                                             
2.  Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ II
Họp từ ngày 23 - 27/02/1961, tại Thủ đô Hà Nội. Bầu BCH gồm 55 ủy viên chính thức và 10 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Hoàng Quốc Việt được bầu làm Chủ tịch, đồng chí Trần Danh Tuyên được bầu làm Tổng Thư ký.
3.  Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ III
Họp từ ngày 11 - 14/02/1974 tại Thủ đô Hà Nội. Bầu BCH gồm 72 ủy viên, Ban Thư ký gồm 09 ủy viên. Đồng chí Tôn Đức Thắng được bầu làm Chủ tịch danh dự Tổng Công đoàn Việt Nam. Đồng chí Hoàng Quốc Việt được bầu làm Chủ tịch, đồng chí Nguyễn Đức Thuận được bầu làm Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký.
4.  Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ IV (nhiệm kỳ 1978 – 1983)
Họp từ ngày 08 - 11/5/1978 tại Thủ đô Hà Nội. Bầu Ban Chấp hành gồm 155 ủy viên, Ban Thư ký gồm 12 ủy viên. Đồng chí Nguyễn Văn Linh, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch; đồng chí Nguyễn Hộ được bầu là Phó Chủ tịch, đồng chí Nguyễn Đức Thuận được bầu làm Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký.
5.  Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ V (nhiệm kỳ 1983 – 1988)
Họp từ ngày 16 - 18/11/1983 tại Thủ đô Hà Nội. Bầu Ban Chấp hành gồm 155 ủy viên, Ban Thư ký gồm 13 ủy viên. Tháng 02/1987 đồng chí Phạm Thế Duyệt được bầu làm Chủ tịch, đồng chí Vũ Định được bầu làm Phó Chủ tịch, đồng chí Dương Xuân An được bầu làm Tổng Thư ký.
Đại hội lần thứ V đã nhất trí lấy ngày 28/7/1929, Ngày Đại hội thành lập Công hội Đỏ Bắc kỳ làm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam.
 6.  Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ VI (nhiệm kỳ 1988 – 1993)
Họp từ ngày 17 - 20/10/1988 tại Thủ đô Hà Nội. Bầu Ban Chấp hành gồm 155 ủy viên, Ban Thư ký gồm 15 ủy viên. Đồng chí Nguyễn Văn Tư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch.
 7. Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ VII (nhiệm kỳ 1993 – 1998)
Họp từ ngày 09 - 12/11/1993 tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội xác định mục tiêu của hoạt động công đoàn trong những năm tới là “Đổi mới tổ chức và hoạt động công đoàn; góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chăm lo và bảo vệ lợi ích của công nhân, lao động”. Đại hội bầu Ban Chấp hành gồm 125 ủy viên, Đoàn Chủ tịch gồm 15 ủy viên. Đồng chí Nguyễn Văn Tư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch.
 8.  Đại hội  Công đoàn Việt Nam lần thứ VIII (nhiệm kỳ 1998 – 2003)
Họp từ ngày 03 - 06/11/1998 tại Thủ đô Hà Nội. Mục tiêu của Đại hội là “Vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành gồm 145 ủy viên, Đoàn Chủ tịch gồm 17 ủy viên. Đồng chí Cù Thị Hậu Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch.
9.  Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ IX (nhiệm kỳ 2003 – 2008)
Họp từ ngày 10 - 13/10/2003 tại Thủ đô Hà Nội. Bầu Ban Chấp hành gồm 155 ủy viên, tại Đại hội bầu 150 ủy viên, số còn lại sẽ bầu bổ sung trong nhiệm kỳ. Đoàn Chủ tịch gồm 19 ủy viên. Đồng chí Cù Thị Hậu, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch.
10.  Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ X (nhiệm kỳ 2008 – 2013)
Họp từ ngày 02 - 05/11/2008 tại Thủ đô Hà Nội. Số lượng Ban Chấp hành gồm 165 ủy viên, tại Đại hội đã bầu 160 ủy viên, số còn lại sẽ bầu bổ sung trong nhiệm kỳ. Đồng chí Đặng Ngọc Tùng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch.
11. Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XI (nhiệm kỳ 2013 – 2018)
Họp từ ngày 27 - 30/7/2013, tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội nhất trí số lượng ủy viên Ban Chấp hành gồm 175 ủy viên, tại Đại hội đã bầu 172 ủy viên, số còn lại sẽ bầu bổ sung trong nhiệm kỳ. Đoàn Chủ tịch là 27 Ủy viên. Đồng chí Đặng Ngọc Tùng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch.
Ngày 14/4/2016 đồng chí Bùi Văn Cường, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu làm Chủ tịch.
B. KẾT QUẢ NỔI BẬT TRONG THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM LẦN THỨ XI (2013 - 2018)
Tổ chức công đoàn đã phát huy năng lực, trí tuệ của đội ngũ cán bộ, đoàn viên, trong việc tham gia xây dựng chính sách, pháp luật. Nhiều đề xuất của công đoàn đã được tiếp thu, góp phần quan trọng bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đoàn viên và người lao động, tiêu biểu là tham gia xây dựng Luật Bảo hiểm xã hội, Luật An toàn vệ sinh lao động, Bộ luật Tố tụng Dân sự (sửa đổi); các nghị định hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động, Luật Công đoàn năm 2012, tham gia có hiệu quả trong Hội đồng tiền lương quốc gia …
Chương trình phát triển đoàn viên giai đoạn 2013 - 2018 đã được các cấp công đoàn tập trung thực hiện. Tính đến ngày 30/11/2017, cả nước đã có 10.051.052 đoàn viên thuộc 126.313 công đoàn cơ sở; tăng so với đầu nhiệm kỳ hơn 2,1 triệu đoàn viên; hoàn thành chỉ tiêu của nhiệm kỳ trước thời hạn. Trong đó, có 44 công đoàn tỉnh, ngành đã triển khai phát triển đoàn viên theo phương pháp mới, thành lập 1.010 công đoàn cơ sở, kết nạp 97.231 đoàn viên.
Công đoàn các cấp có nhiều đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động; lãnh đạo công đoàn các cấp đã phát huy vai trò, trách nhiệm trước đoàn viên, người lao động trong việc giải quyết nhanh nhạy, kịp thời, sáng tạo các công việc thuộc thẩm quyền.
C. MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ CỦA CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM NHIỆM KỲ 2018 – 2023
I. Mục tiêu
Tập trung đổi mới mạnh mẽ tổ chức và hoạt động công đoàn; lấy nhu cầu chính đáng của số đông đoàn viên, người lao động làm cơ sở hoạt động; lấy đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, người lao động làm mục tiêu hoạt động; lấy công đoàn cơ sở làm địa bàn chủ yếu. Tập trung các nguồn lực để xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh; chủ động thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của tình hình mới; đoàn viên gắn bó bền vững với tổ chức Công đoàn Việt Nam; cán bộ công đoàn chuyên nghiệp, bản lĩnh, trí tuệ, tâm huyết, trách nhiệm.
II. Phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2018 – 2023
1. Tập trung các nguồn lực và tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ đại diện bảo vệ quyền lợi hợp pháp để củng cố, tăng cường sự gắn bó chặt chẽ với đoàn viên, người lao động, góp phần xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. 
2. Thực hiện đồng bộ công tác tuyên truyền, vận động của tổ chức Công đoàn; tham gia xây dựng người lao động Việt Nam yêu nước, đoàn kết, nghĩa tình, lao động sáng tạo, tôn trọng pháp luật; phát triển các phương thức tuyên truyền có tác động nhanh, sức lan tỏa rộng và đưa các hoạt động văn hóa tinh thần đến đông đảo đoàn viên, người lao động.
3. Tiến hành phát triển đoàn viên bền vững. Tiếp tục đổi mới nhiệm vụ, phương pháp thu hút, tập hợp người lao động tham gia tổ chức CĐ; phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn đi đôi với xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh; đổi mới, sắp xếp, kiện toàn mô hình, tổ chức, bộ máy công đoàn các cấp; chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn; đẩy mạnh công tác cán bộ; tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh.
4. Đổi mới việc tổ chức phong trào thi đua yêu nước theo hướng thiết thực, hiệu quả, sát hợp từng đối tượng, góp phần khẳng định vai trò của tổ chức công đoàn, của đoàn viên, người lao động trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
5. Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp công đoàn trong tiến trình thực hiện mục tiêu bình đẳng giới và đổi mới hoạt động nữ công, trọng tâm là các công đoàn cơ sở ngoài khu vực nhà nước.
6. Mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại theo đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước; đảm bảo an toàn, an ninh quốc gia, nâng cao vị thế và khẳng định vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam.
7. Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban Kiểm tra công đoàn, góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương; phòng chống tham nhũng, lãng phí; nâng cao hiệu quả hoạt động công đoàn.
8. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, đồng bộ công tác tài chính công đoàn theo hướng chuyên nghiệp, công khai, minh bạch, công bằng, hiệu quả để tăng cường, phát huy các nguồn lực đáp ứng nhiệm vụ nâng cao chất lượng hoạt động công đoàn; phục vụ tốt hơn nhu cầu chính đáng của đoàn viên, người lao động.
9. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành trong hoạt động Công đoàn theo hướng cấp trên phục vụ cấp dưới, tổ chức công đoàn phục vụ đoàn viên, người lao động; đồng thời, phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương.
Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XII là Đại hội “Đổi mới, dân chủ, đoàn kết, trách nhiệm”, khẳng định quyết tâm của các cấp công đoàn, toàn thể cán bộ công đoàn tận dụng thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, chủ động đổi mới tổ chức và hoạt động, xây dựng Công đoàn Việt Nam lớn mạnh, tạo bước phát triển mới trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho đoàn viên, thể hiện rõ nét nhiệm vụ đại diện bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, phát triển bền vững, phát huy vai trò quan trọng của công nhân, viên chức, lao động trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XII sẽ được tổ chức từ ngày 24 – 26/9/2018 tại thủ đô Hà Nội.
Ban tuyên giáo Trung ương
*Trường hợp tinh giản biên chế

1. Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 113/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 108/2014/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế. Cụ thể, Nghị định bổ sung thêm đối tượng tinh giản biên chế là: Cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý thôi giữ chức vụ do sắp xếp tổ chức bộ máy theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, tự nguyện thực hiện tinh giản biên chế và được cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý đồng ý.

Bên cạnh đó, Nghị định cũng bổ sung thêm trường hợp tinh giản biên chế: Những người đã là cán bộ, công chức, viên chức được cơ quan có thẩm quyền điều động sang công tác tại các hội được giao biên chế và ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí để trả lương nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm đ, e, g khoản 1 Điều 6 Nghị định số 108/2014/NĐ-CP.
Ngoài ra, Nghị định số 113/2018/NĐ-CP còn sửa đổi một số đối tượng tinh giản biên chế đã quy định tại Nghị định số 108/2014/NĐ-CP. Trong đó có trường hợp những người đã là cán bộ, công chức được cơ quan có thẩm quyền cử tham gia quản lý hoặc đại diện theo ủy quyền đối với phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước mà dôi dư do cơ cấu lại doanh nghiệp đó.
Bổ sung cách tính trợ cấp, Cụ thể, thời điểm được dùng làm căn cứ để tính đủ tuổi đời hưởng chế độ, chính sách nghỉ hưu trước tuổi là ngày 01 tháng sau liền kề với tháng sinh của đối tượng; trường hợp trong hồ sơ của đối tượng không ghi rõ ngày, tháng sinh trong năm thì lấy ngày 01 tháng 01 của năm sau liền kề với năm sinh của đối tượng.
Thời gian để tính trợ cấp là thời gian làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và các hội được tính hưởng bảo hiểm xã hội và đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc (theo sổ bảo hiểm xã hội của mỗi người), nhưng chưa hưởng trợ cấp thôi việc hoặc chưa hưởng chế độ bảo hiểm xã hội một lần hoặc chưa hưởng chế độ phục viên, xuất ngũ. Nếu thời gian tính trợ cấp có tháng lẻ thì được tính tròn theo nguyên tắc dưới 3 tháng thì không tính; từ đủ 3 tháng đến đủ 6 tháng tính là 1/2 năm; từ trên 6 tháng đến dưới 12 tháng tính tròn là 1 năm.
2. Sơ kết thực hiện đột phá về ứng dụng KHKT và công nghệ vào sản xuất, giai đoạn 2016 – 2020
Ngày 6.9, UBND tỉnh tổ chức Hội nghị trực tuyến với các huyện, thành phố, sơ kết thực hiện đột phá về ứng dụng Khoa học kỹ thuật và công nghệ (KHKT&CN) vào sản xuất tỉnh Hà Giang, giai đoạn 2016 – 2020. Qua hơn 2 năm thực hiện kế hoạch đột phá, tỉnh ta đã cụ thể hóa, ban hành một số cơ chế, chính sách đặc thù và huy động trên 90 tỷ đồng để triển khai thực hiện. Tỉnh đã tập trung giải quyết được những vấn đề cấp thiết, phù hợp với điều kiện, khả năng kinh tế của địa phương. Đặc biệt, đã ứng dụng đồng bộ hệ thống văn bản điện tử, thư điện tử, một cửa điện tử, hội nghị trực tuyến… vào quản lý, điều hành. Bên cạnh đó, làm chủ công nghệ sản xuất một số giống dược liệu quý và giống cây trồng, vật nuôi đặc hữu của tỉnh; nhiều máy móc, thiết bị được ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp; nhiều kỹ thuật mới được ứng dụng trong lĩnh vực y tế. Đến nay, 100% cơ quan hành chính thực hiện liên thông văn bản điện tử có tích hợp chữ ký số; 80% số trường học áp dụng hình thức hồ sơ, sổ sách điện tử, báo cáo trực tuyến; 16/16 bệnh viện triển khai phần mềm quản lý khám, chữa bệnh. Các sở, ngành triển khai thực hiện 45 nhiệm vụ thuộc lĩnh vực chuyên môn; các huyện, thành phố triển khai 60 nhiệm vụ và 1 kế hoạch đột phá ứng dụng KHKT&CN vào sản xuất…
Phát biểu tại Hội nghị,  Bí thư Tỉnh ủy Triệu Tài Vinh  nêu rõ: Cuộc cách mạng 4.0 là thời cơ nhưng cũng là thách thức lớn; do đó, khi dám đối mặt với sự thật và dám trả lời trước nhân dân thì Nghị quyết của Đảng mới đi vào cuộc sống; vì vậy, cần phải vào cuộc quyết liệt và nêu cao trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền trong việc ứng dụng KHKT&CN vào sản xuất…
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

VIDEO HOẠT ĐỘNG

KIẾN NGHỊ CỬ TRI















 




ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG
Địa chỉ: Số 01 Đường Đội Cấn - Phường Nguyễn Trãi - Thành phố Hà Giang - Tỉnh Hà Giang
Số điện thoại: 02193.867.356 - Fax: 02193.860.778
Email: bbt.dbnd@hagiang.gov.vn